Đổi mới thể chế để kích hoạt nguồn lực văn hóa
Luật Thủ đô 2026 mở thêm không gian pháp lý để Hà Nội chủ động huy động nguồn lực, bảo vệ và phát triển văn hóa. Nhưng giá trị của cơ chế mới không nằm ở số lượng chính sách được ban hành mà ở khả năng đưa những công cụ đó vào đời sống, chuyển tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, hoạt động sáng tạo, sinh kế và những giá trị cụ thể cho cộng đồng.

Tháp Rùa - biểu tượng văn hóa trong không gian cảnh quan hồ Hoàn Kiếm Ảnh: Thành Thịnh
Đưa chính sách vào thực tiễn
Hà Nội sở hữu hệ thống di tích, làng nghề, nghệ thuật truyền thống, không gian công cộng, đời sống văn hóa phong phú. Tuy nhiên, tài nguyên văn hóa tự thân chưa thể trở thành nguồn lực phát triển nếu thiếu cơ chế tổ chức và khả năng kết nối với đời sống kinh tế - xã hội.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt văn hóa, con người ở vị trí nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực phát triển. Từ đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn, mà còn tạo điều kiện để các giá trị văn hóa tiếp tục được thực hành, sáng tạo và phát huy trong đời sống đương đại.
Với Hà Nội, câu hỏi không còn là có bao nhiêu tài nguyên văn hóa, mà là làm thế nào để những tài nguyên ấy được tổ chức, khai thác và kết nối với công chúng, doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nhấn mạnh yêu cầu khơi thông nguồn lực xã hội, tạo môi trường thể chế thuận lợi để doanh nghiệp, nghệ sĩ và cộng đồng sáng tạo tham gia phát triển sản phẩm văn hóa.
Thực tế, Hà Nội đã có nền tảng ban đầu. Sau khi gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO năm 2019, đến tháng 12-2025, Mạng lưới Không gian sáng tạo Hà Nội đã kết nối 82 thành viên. Nguồn lực sáng tạo đã hình thành, nhiệm vụ còn lại là kết nối các không gian này với chính sách, doanh nghiệp và thị trường.
Luật Thủ đô tạo thêm cơ sở pháp lý cho quá trình này. Tại khoản 1 Điều 15, Luật Thủ đô quy định HĐND thành phố ban hành chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa và sử dụng ngân sách nhà nước để bảo vệ, phát triển văn hóa, thể thao của Thủ đô; đồng thời quy định tổ chức, hoạt động, cơ chế quản lý, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển khu phát triển thương mại và văn hóa, trung tâm công nghiệp văn hóa, các loại hình tổ chức, thiết chế văn hóa khác.
Bước đi cụ thể của Hà Nội là Nghị quyết số 31/2026/NQ-HĐND, được HĐND thành phố ban hành ngày 15-6-2026. Nghị quyết xác định đối tượng, nội dung và điều kiện hỗ trợ, qua đó gắn nguồn lực công với yêu cầu tổ chức hoạt động và trách nhiệm thực hiện.
Đây là điểm đáng chú ý về phương thức quản trị. Trong đó, Nhà nước không chỉ trực tiếp đầu tư cho hoạt động văn hóa, mà tạo thêm khuôn khổ để các nguồn lực xã hội cùng tham gia.
Từ yêu cầu đưa chính sách vào thực tiễn, Đề án thí điểm tổ chức không gian văn hóa, tuyến phố đi bộ phố Thành Thái tại phường Cầu Giấy là một trường hợp thực nghiệm cho bài toán vận hành ở cơ sở.

Phối cảnh minh họa Không gian văn hóa, phố đi bộ Thành Thái - Khúc Thừa Dụ Ảnh: Minh họa
Ngày 31-7-2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 3905/QĐ-UBND phê duyệt Đề án, không gian được định hướng với nhận diện “Cầu Giấy - Thung lũng sáng tạo, không gian xanh và tinh hoa cốm Vòng”, đồng thời hình thành một không gian công cộng đa chức năng, an toàn, thân thiện, gắn với các hoạt động văn hóa và đời sống cộng đồng.
Điều đáng quan tâm không phải việc Hà Nội có thêm một tuyến phố đi bộ, mà là cách không gian đó vận hành sau khi gắn biển. Một tuyến phố có thể đông đúc ngày khai trương nhưng chưa chắc hình thành đời sống văn hóa thường xuyên. Với phố Thành Thái, câu hỏi quan trọng hơn là liệu không gian này có kết nối được văn hóa, dịch vụ và sáng tạo thành một đời sống ổn định hay không. Điều đó phụ thuộc vào việc cộng đồng có thực sự tham gia, các chủ thể sáng tạo có điều kiện hoạt động và doanh nghiệp có tìm thấy cơ hội đồng hành phù hợp hay không.
Hiệu quả của mô hình có thể nhìn qua ba lớp giá trị. Thứ nhất là giá trị văn hóa - xã hội khi người dân có thêm không gian tiếp cận, tham gia và thụ hưởng văn hóa. Thứ hai là giá trị đô thị qua việc không gian công cộng được tổ chức, kết nối với cây xanh, giao thông và cảnh quan. Thứ ba là giá trị kinh tế khi các hoạt động văn hóa tạo thêm dư địa cho dịch vụ, du lịch, sản phẩm địa phương và cộng đồng sáng tạo.

Khu vực giao giữa phố Thành Thái và phố Khúc Thừa Dụ, phường Cầu Giấy, thuộc không gian kết nối trong Đề án thí điểm. Ảnh: NHT
Đây cũng là điểm cần phân biệt, một không gian có hoạt động văn hóa khác với một không gian tạo ra đời sống văn hóa.
Thước đo hiệu quả
Khi mở thêm không gian cho nguồn lực xã hội tham gia, Hà Nội đồng thời phải làm rõ hiệu quả và giới hạn của xã hội hóa.
Xã hội hóa văn hóa không đồng nghĩa với việc chuyển mọi không gian văn hóa sang mục tiêu kinh doanh. Nhà nước vẫn phải giữ vai trò kiến tạo, đặt ra điều kiện, tiêu chuẩn và yêu cầu về lợi ích cộng đồng. Trong khi đó, doanh nghiệp, tổ chức, nghệ sĩ và các chủ thể sáng tạo tham gia bằng năng lực tổ chức, sản phẩm và khả năng kết nối với công chúng.
Điều quan trọng là nguồn lực công phải đi cùng điều kiện thực hiện và trách nhiệm giải trình, để hỗ trợ trở thành động lực cho hoạt động chứ không dừng ở phân bổ kinh phí.
Ngân sách nhà nước có thể tạo cú hích ban đầu, nhưng không thể thay thế cho chất lượng hoạt động. Nguồn lực xã hội có thể được huy động nhưng chỉ duy trì khi các chủ thể nhìn thấy cơ hội tham gia và lợi ích phù hợp. Một thiết chế có thể được hỗ trợ, nhưng chỉ thực sự có sức sống khi người dân sử dụng và cộng đồng tham gia thường xuyên.
Năm 2025, Hà Nội đón trên 33,7 triệu lượt khách, tổng thu từ du lịch đạt hơn 134.000 tỷ đồng. Những con số này không phải kết quả trực tiếp của các cơ chế mới về văn hóa, nhưng cho thấy dư địa lớn để kết nối di sản, ẩm thực, cảnh quan và nghệ thuật với dịch vụ, du lịch và các hoạt động kinh tế đô thị.
Vì thế, thước đo của chính sách không nên chỉ là có bao nhiêu văn bản được ban hành, bao nhiêu chương trình được tổ chức hay bao nhiêu kinh phí được giải ngân. Với những mô hình cụ thể như phố đi bộ Thành Thái, cần nhìn vào những kết quả có thể kiểm chứng: Không gian có được người dân sử dụng thường xuyên không? Có hình thành được những sản phẩm, hoạt động văn hóa phù hợp và có chất lượng không? Các doanh nghiệp, tổ chức và chủ thể sáng tạo có tham gia lâu dài không? Nguồn lực xã hội có được huy động và duy trì không? Quan trọng hơn, người dân nhận được giá trị gì từ những cơ chế mới?
Đó là khoảng cách giữa một chính sách được ban hành và một chính sách tạo ra thay đổi. Giá trị của thể chế không nằm ở độ mở của quy định trên giấy mà ở những thay đổi người dân có thể nhìn thấy và thụ hưởng. Vì vậy, Hà Nội sẽ cần nhiều nỗ lực để tổ chức thực thi các cơ chế mới của Luật Thủ đô năm 2026 nhằm đáp ứng mục tiêu những quy định ấy thực sự tạo ra sức sống văn hóa, giá trị phát triển và lợi ích bền vững cho người dân.
