Đổi cây, giữ nghề trên vùng đất mía Tơ Tung
Từ những diện tích mía kém hiệu quả, người dân xã Tơ Tung (tỉnh Gia Lai) đang mạnh dạn chuyển sang trồng chanh dây, dứa mật, đồng thời phát triển nghề nuôi trâu theo hướng sinh sản.
Những cách làm mới không chỉ tạo thêm nguồn thu mà còn giúp người dân khai thác tốt hơn lợi thế đất đai, đa dạng sinh kế và từng bước xây dựng hướng sản xuất bền vững.
Cây trồng mới bén rễ trên đất mía
Tơ Tung là vùng chuyên canh mía với diện tích khoảng 4.200 ha. Tuy nhiên, tại những khu vực năng suất thấp, hiệu quả kinh tế chưa như kỳ vọng, nhiều hộ dân đã chủ động chuyển đổi sang các loại cây có giá trị cao hơn. Trong đó, chanh dây và dứa mật đang cho thấy khả năng thích nghi khá tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương.

Nhờ chuyển đổi sang trồng chanh dây mà gia đình bà Lương Thị Thắm (làng Pơ Ngăl, xã Tơ Tung) có thu nhập cao hơn so với trồng mía. Ảnh: N.S
Tại làng Pơ Ngăl, gia đình bà Lương Thị Thắm trồng gần 500 gốc chanh dây trên diện tích 6 sào. Trong đó, 3 sào trồng từ tháng 7-2025 đã thu hoạch 2 đợt, sản lượng khoảng 12 tấn quả, giá bán từ 10-13 nghìn đồng/kg; 3 sào trồng đầu năm 2026 cũng bắt đầu cho thu bói.
Toàn bộ diện tích được gia đình đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân qua đường ống. Nhờ đó, thời gian tưới cả khu vườn giảm từ vài giờ xuống còn khoảng một giờ, đồng thời tiết kiệm nước, phân bón và công chăm sóc.
“Phân được hòa vào nước, đưa trực tiếp đến từng gốc nên cây hấp thụ tốt, phát triển đồng đều. So với trồng mía, chanh dây cho thu nhập cao hơn nhiều” - bà Thắm cho biết.

Cây chanh dây đã “bén duyên” với vùng đất trước đây người dân chủ yếu trồng mía. Ảnh: N.S
Không chỉ chanh dây, dứa mật cũng mở thêm lựa chọn cho những hộ muốn chuyển đổi đất mía kém hiệu quả. Gia đình chị Trần Thị Bích (thôn Hbang) là một trong những hộ đầu tiên đưa loại cây này về trồng.
Đầu năm 2020, sau chuyến tham quan mô hình tại Đắk Lắk, nhận thấy dứa mật phù hợp với đất đồi dốc, chị Bích mua giống trồng thử nghiệm 1 ha. Cây nhanh chóng thích nghi, quả có trọng lượng bình quân 2-2,5 kg, một số quả đạt khoảng 4 kg. Mỗi héc ta cho sản lượng khoảng 20 tấn quả/năm, giá bán từ 7-10 nghìn đồng/kg.
Từ hiệu quả bước đầu, gia đình chị đã mở rộng thêm 1 ha. “Dứa mật sinh trưởng khá tốt, đầu ra tương đối thuận lợi, thu nhập cao hơn một số cây trồng trước đây nên gia đình quyết định mở rộng diện tích” - chị Bích chia sẻ.
Đến nay, xã Tơ Tung có khoảng 35 ha chanh dây và 15 ha dứa mật, chủ yếu tập trung tại những khu vực thuận lợi về nguồn nước. Một số hộ tiếp tục chuyển những diện tích mía năng suất thấp sang hai loại cây này.

Vườn dứa mật của chị Trần Thị Bích (thôn Hbang, xã Tơ Tung) phát triển xanh tốt, mang lại nguồn thu đáng kể cho gia đình. Ảnh: N.S
Theo ông Trịnh Xuân Đồng - Chủ tịch Hội Nông dân xã Tơ Tung, từ các mô hình thực tế, chanh dây và dứa mật bước đầu cho thấy triển vọng. Xã đang có kế hoạch hỗ trợ 500 triệu đồng từ nguồn Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh cho 10 hộ tại làng Pơ Ngăl phát triển 12 ha chanh dây.
Tuy nhiên, địa phương xác định việc chuyển đổi phải căn cứ vào điều kiện đất đai, nguồn nước, khả năng đầu tư và thị trường tiêu thụ, tránh phát triển ồ ạt theo phong trào. Cùng với hỗ trợ kỹ thuật, xã đang tăng cường kết nối hợp tác xã, doanh nghiệp để từng bước hình thành chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, tạo đầu ra ổn định trước khi mở rộng diện tích.
Nuôi trâu thành “của để dành”
Bên cạnh những cây trồng mới, người dân Tơ Tung vẫn duy trì một sinh kế truyền thống là nuôi trâu. Tuy nhiên, khi máy móc dần thay thế sức kéo, con trâu không còn chủ yếu phục vụ cày bừa mà được nuôi theo hướng sinh sản, trở thành tài sản tích lũy và nguồn thu của nhiều gia đình.
Thôn Cao Sơn là địa bàn có nghề nuôi trâu phát triển lâu năm. Gần 40 năm trước, ông Nông Văn Khầu từ Cao Bằng vào đây lập nghiệp và mang theo kinh nghiệm chăn nuôi của quê nhà. Từ vài con ban đầu, gia đình ông hiện duy trì đàn 7 con theo hướng sinh sản.

Thôn Cao Sơn (xã Tơ Tung) đang duy trì, phát triển tốt nghề nuôi trâu sinh sản. Ảnh: N.S
Nguồn tiền bán trâu qua nhiều năm giúp gia đình ông có vốn đầu tư sản xuất, mua máy móc và xây dựng nhà cửa. Căn nhà mới hoàn thành cách đây 2 năm cũng có một phần kinh phí từ bán trâu.
“Nuôi trâu không cho tiền ngay như cây ngắn ngày nhưng lại là tài sản tích lũy. Khi cần vốn làm nhà, mua máy móc hoặc đầu tư sản xuất, gia đình có thể bán một vài con để xoay xở” - ông Khầu nói.
Gia đình ông Nông Văn Nhầm cũng gắn bó với nghề nuôi trâu từ những năm 1990, hiện duy trì đàn 6 con. Ngoài bán trâu giống, gia đình còn tận dụng phân chuồng ủ thành phân hữu cơ bón cho cây trồng, qua đó giảm chi phí sản xuất và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Theo ông Nhầm, với nhiều hộ ở thôn Cao Sơn, đàn trâu vẫn được xem là “của để dành”. Những gia đình có đất, nguồn thức ăn thường duy trì vài con vừa để sinh sản, tích lũy tài sản, vừa lấy phân hữu cơ phục vụ trồng trọt.
Hiện thôn Cao Sơn có hơn 80 hộ nuôi trên 210 con trâu. Phần lớn đã chuyển từ nuôi lấy sức kéo sang nuôi sinh sản. Người dân cũng chú trọng hơn đến chuồng trại, vệ sinh môi trường và phòng - chống dịch bệnh.
Bà Lãnh Thị Hòa - Trưởng thôn Cao Sơn - cho biết, khoảng 80% hộ chăn nuôi đã thực hiện xử lý chất thải đúng quy trình. Từ đầu năm đến nay, đàn trâu trên địa bàn phát triển ổn định, không xảy ra dịch bệnh.

Chính quyền xã Tơ Tung định hướng phát triển đàn trâu theo hướng hàng hóa, bền vững. Ảnh: N.S
Chính quyền xã Tơ Tung đang tiếp tục hướng dẫn người dân cải tạo chuồng trại, nâng cao chất lượng con giống, chăm sóc và phòng bệnh cho đàn vật nuôi. Theo ông Nguyễn Anh Thơ - Phó Chủ tịch UBND xã, đến cuối năm 2026, xã phấn đấu nâng tổng đàn trâu lên khoảng 1.800 con, đồng thời đưa tỷ lệ sinh sản của đàn đạt khoảng 70%.
Từ chuyển đổi đất mía sang chanh dây, dứa mật đến phát triển đàn trâu sinh sản, người dân Tơ Tung đang từng bước giảm phụ thuộc vào một loại cây trồng, vật nuôi. Cây trồng mới tạo giá trị trên những diện tích sản xuất kém hiệu quả, trong khi nghề nuôi trâu truyền thống tiếp tục phát huy vai trò như nguồn vốn tích lũy. Sự kết hợp giữa đổi mới và gìn giữ sinh kế phù hợp đang mở thêm hướng nâng cao thu nhập, giúp người dân khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai và hướng tới sản xuất bền vững.

