Độc lập - Điểm tựa cho khát vọng hùng cường
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thời khắc ấy, dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, Nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.
TS. Phạm Ngọc Hùng • 01/09/2026
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thời khắc ấy, dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, Nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài về đường lối, lực lượng và căn cứ cách mạng, đồng thời là kết quả của khả năng nhận diện, nắm bắt đúng thời cơ và huy động sức mạnh toàn dân. Từ chuyển hướng chiến lược đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đến quyết định Tổng khởi nghĩa khi thời cơ xuất hiện, cách mạng đã biến khát vọng độc lập thành hiện thực.
Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị, nhưng nội hàm của độc lập trong điều kiện mới đã có sự phát triển. Năm 1945, độc lập trước hết là giành lại quyền tự quyết về chính trị, chấm dứt thân phận thuộc địa. Ngày nay, trong một thế giới hội nhập sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt, độc lập còn phải được bảo đảm bằng thực lực quốc gia và năng lực tự chủ trên nhiều phương diện.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập”, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu
Một quốc gia chỉ thực sự có khả năng tự quyết khi có nền kinh tế đủ sức chống chịu, làm chủ khoa học - công nghệ, đặc biệt ở những lĩnh vực then chốt, có nguồn nhân lực chất lượng cao, thể chế hiệu quả, quốc phòng - an ninh vững mạnh và khả năng chủ động ứng phó với những biến động từ bên ngoài. Tự chủ không phải là đóng cửa hay tách mình khỏi thế giới, càng không đồng nghĩa với tự cung, tự cấp, mà trong thời đại hội nhập, đó là khả năng hội nhập sâu nhưng không lệ thuộc; tranh thủ nguồn lực bên ngoài nhưng không đánh mất nội lực; tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu nhưng từng bước nâng cao vị trí của mình trong các chuỗi giá trị ấy.
Thực tiễn 40 năm Đổi mới cho thấy, Việt Nam đang từng bước tạo dựng những nền tảng đó. Từ một nền kinh tế nghèo, quy mô nhỏ, đất nước đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô lớn trong khu vực, có độ mở cao, tham gia ngày càng sâu vào mạng lưới thương mại và đầu tư toàn cầu. Hệ thống kết cấu hạ tầng được mở rộng; năng lực sản xuất, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số từng bước được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được cải thiện. Những thành quả ấy chính là một phương diện quan trọng làm nên thực lực của nền độc lập.

Lễ khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN
Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ càng trở nên cấp thiết khi thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc: Cạnh tranh chiến lược gia tăng, chuỗi cung ứng tái cấu trúc, công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất và mô hình tăng trưởng. Văn kiện Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là những động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế, mà còn là yêu cầu củng cố nền tảng tự chủ quốc gia.
Bởi vậy, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ phải gắn với phát triển các ngành công nghiệp chiến lược, nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam, làm chủ công nghệ, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu và tăng sức chống chịu của nền kinh tế. Cùng với đó là xây dựng một Nhà nước có năng lực quản trị hiện đại, một xã hội có sức đồng thuận cao và một nền quốc phòng, an ninh đủ mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Một góc của Thủ đô Hà Nội. Ảnh: VCG
Năng lực tự chủ được nâng lên cũng tạo cơ sở để nâng cao vị thế quốc gia. Từ một dân tộc phải đấu tranh để giành quyền độc lập và được công nhận quyền tự quyết, Việt Nam ngày nay đã trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại, tham gia ngày càng sâu vào các cơ chế đa phương và chủ động đóng góp vào các vấn đề chung cho thấy vị thế quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay tiềm lực quân sự, mà còn bằng khả năng đóng góp, sức hấp dẫn, uy tín và năng lực định hình môi trường phát triển.

Nếu độc lập là điểm tựa thì đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nguồn sức mạnh căn bản để tạo dựng và phát huy điểm tựa ấy. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là minh chứng sinh động cho sức mạnh của việc tập hợp, tổ chức và phát huy lực lượng toàn dân. Trong thời điểm quyết định của lịch sử, lời kêu gọi “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” đã trở thành sự thôi thúc mạnh mẽ để hàng triệu người dân đồng loạt đứng lên giành chính quyền.
Bài học ấy trong điều kiện hiện nay cần được phát huy bằng cách biến lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển thành nguồn lực nội sinh cho công cuộc xây dựng đất nước. Đại đoàn kết phải trở thành nền tảng thường xuyên của phát triển. Đó là sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sự gắn kết giữa các vùng, miền, các tầng lớp xã hội, giữa doanh nghiệp và người lao động, giữa nguồn lực trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải khơi thông mọi tiềm năng, giải phóng sức sáng tạo của con người, tạo môi trường để mọi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội đóng góp vào sự phát triển chung. Khi khát vọng của mỗi người được kết nối với khát vọng của dân tộc, sức mạnh xã hội sẽ được nhân lên và trở thành động lực phát triển.
Đại đoàn kết phải gắn với xây dựng niềm tin và bảo đảm hài hòa lợi ích. Phát triển phải hướng đến con người, nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ xã hội; đồng thời, bảo đảm để thành quả tăng trưởng được lan tỏa rộng rãi. Một xã hội mà người dân có niềm tin, có cơ hội phát triển và cảm nhận rõ mình là chủ thể của quá trình phát triển sẽ tạo ra nền tảng xã hội bền vững cho khát vọng hùng cường.

Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay.
Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đòi hỏi những bước tiến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và đời sống Nhân dân. Khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 chính là sự tiếp nối trong điều kiện mới của khát vọng độc lập, tự do được khẳng định từ mùa Thu năm 1945.
Để hiện thực hóa khát vọng ấy, cần chuyển hóa bài học Cách mạng Tháng Tám thành năng lực phát triển; chủ động nắm bắt thời cơ thành khả năng tạo dựng cơ hội; sức mạnh toàn dân thành nguồn lực của con người, doanh nghiệp, khoa học - công nghệ và xã hội; ý chí tự lực, tự cường thành năng lực tự chủ của nền kinh tế và quốc gia.
Từ ngày 2/9/1945 đến hôm nay là hành trình giữ gìn, bảo vệ nền độc lập, xây dựng, đổi mới, hội nhập và nâng cao vị thế đất nước. Trong kỷ nguyên mới, giữ vững độc lập không chỉ là bảo vệ chủ quyền, mà còn là làm chủ năng lực phát triển, làm chủ tương lai. Một nền kinh tế tự chủ, khoa học - công nghệ tiên tiến, xã hội đoàn kết, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả và vị thế quốc tế ngày càng cao chính là những nền tảng của một Việt Nam hùng cường.

Lễ Thượng cờ trên Quảng trường Ba Đình. Ảnh: TTXVN
