Độc lập dân tộc trong tầm nhìn vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Văn bản đầu tiên và quan trọng nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Tiêu ngữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" cũng do Cụ Hồ đề xuất, bắt đầu bằng từ “Độc lập”. Trước đó, trong những ngày sục sôi khí thế cách mạng mùa hè năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập". Năm 1966, trong “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Tất cả những điều này không phải ngẫu nhiên. Trong tầm nhìn chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để nhân dân được tự do và hạnh phúc. Ngày nay, hơn 80 năm sau Cách mạng Tháng Tám, chúng ta càng nhận thức rõ hơn về tính triệt để và tầm nhìn xa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc.

1. Hãy nhìn lại giai đoạn nước sôi lửa bỏng sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đế quốc Pháp ngoan cố quyết tâm khôi phục lại quyền thống trị tại Việt Nam và Đông Dương. Chính phủ lâm thời của Pháp do Charles de Gaulle đứng đầu đề ra việc thành lập "Liên bang Đông Dương" gồm 5 xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Lào) trong Khối Liên hiệp Pháp với mức độ tự trị rất thấp - toàn bộ quyền đối ngoại, quốc phòng và kinh tế đều do Pháp nắm giữ. Chính phủ de Gaulle cũng chủ trương tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam, biến Nam Kỳ thành một "xứ tự trị" thuộc Pháp. Về thực chất, đó là một mô hình cai trị không khác nhiều so với chế độ cai trị mà phát xít Nhật đã áp dụng thông qua “Đế quốc Việt Nam” hay chế độ thực dân mà Pháp đã áp dụng trước đó.

Lập trường của Chính phủ Hồ Chí Minh là không chấp nhận một nền độc lập giả hiệu. Chúng ta kiên quyết bác bỏ chính phủ “Nam Kỳ tự trị” do Pháp dựng lên để chia cắt Việt Nam. Về độc lập và chủ quyền dân tộc, chúng ta bác bỏ khái niệm “quốc gia tự do”, đòi Pháp phải công nhận Việt Nam là “quốc gia độc lập”, có chính phủ riêng, quân đội riêng, có toàn quyền về ngoại giao và yêu cầu Pháp phải có lộ trình rút toàn bộ quân đội về nước. Về kinh tế, nước Việt Nam độc lập phải có đồng tiền, hệ thống tài chính, ngân hàng và thuế quan độc lập.

Sự đấu tranh giữa hai quan điểm diễn ra rất căng thẳng tại Hội nghị Fontainebleau (tháng 7 đến tháng 9-1946) giữa phái đoàn Việt Nam phái đoàn Pháp và chính thái độ ngoan cố của Pháp đã khiến cho hội nghị thất bại. Cũng chính vì quan điểm ngoan cố của thực dân Pháp đã buộc chúng ta phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ.

Để thấy được sự sáng suốt trong tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có thể so sánh với hiện trạng của những nước có xuất phát điểm thuộc địa tương tự như Việt Nam. Vào thời điểm cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, sau chiến thắng vang dội của Việt Nam tại Điện Biên Phủ, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao trên toàn thế giới. Hàng loạt nước lần lượt thoát khỏi ách thực dân. Trong năm 1960, được gọi là “năm châu Phi”, có tới 14 nước thuộc địa được Pháp “trao trả độc lập”.

Tuy nhiên, nếu nghiên cứu các điều kiện mà các nước này phải chấp nhận, ta sẽ thấy ngay rằng đó chỉ là thứ độc lập giả hiệu mà Chính phủ Hồ Chí Minh đã cương quyết bác bỏ. Cho đến tận ngày hôm nay, nhiều quốc gia trong số đó vẫn nằm dưới sự kiểm soát về chính trị, kinh tế, ngoại giao và quân sự. Họ vẫn chưa có đồng tiền riêng..., vẫn đang vật lộn với đói nghèo và bất ổn xã hội.

2. Độc lập dân tộc, trong tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ giới hạn ở các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao. Có một vấn đề khác, còn khó khăn hơn, đó là độc lập về mặt văn hóa, trong đó quan trọng nhất là giáo dục.

Để làm được điều đó, cần phải nâng cao dân trí. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam mới, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi tiêu diệt “giặc dốt”, cùng với “giặc đói” và “giặc ngoại xâm”. Phong trào “Bình dân học vụ” được triển khai rộng khắp trên cả nước và chỉ sau một thời gian ngắn, nạn mù chữ được xóa bỏ. Từ một quốc gia trên 90% dân số mù chữ, Việt Nam trở thành một quốc gia có trên 90% dân số biết chữ, một chỉ số ngang với những quốc gia phát triển nhất. Từ chỗ chỉ có một trường đại học với số sinh viên ít ỏi, chúng ta hiện có hàng trăm trường đại học, hàng triệu người tốt nghiệp đại học và hàng nghìn thạc sĩ, tiến sĩ...

Tất cả những thành tựu này chỉ có thể có được nhờ một nền giáo dục độc lập, với tiếng Việt là ngôn ngữ giáo dục thống nhất và duy nhất trên cả nước. Trong suốt hơn 1.000 năm Bắc thuộc và đến tận khi bị thực dân Pháp xâm lược, nền giáo dục ở nước ta là giáo dục chủ yếu bằng chữ Hán. Dưới thời Pháp thuộc, tiếng Pháp thay chữ Hán với vai trò là ngôn ngữ giảng dạy, trong khi tiếng Việt chỉ là một môn phụ. Như vậy, suốt hàng nghìn năm, nền giáo dục ở nước ta là nền giáo dục bằng ngoại ngữ, dành cho số ít, mà nhiệm vụ chính là đào tạo quan lại cho chính quyền cai trị phong kiến hoặc thực dân, chứ không phải là nền giáo dục dành cho đông đảo nhân dân.

Bằng Sắc lệnh số 146/SL do Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ký ngày 10-8-1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết một nền giáo dục công bằng dành cho đông đảo nhân dân, với những nguyên tắc mà đến hôm nay vẫn còn mang tính thời đại. Điều thứ 1 của Sắc lệnh khẳng định: “Nền giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên ba nguyên tắc căn bản: Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng Quốc gia và dân chủ”. Cùng với sắc lệnh này là Sắc lệnh số 147/SL, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Đặng Thai Mai ký cùng ngày 10-8-1946, quy định: “Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng để giảng dạy trong tất cả các cấp học: Bậc Học cơ bản, Bậc Học trung khoa và Bậc Học đại khoa”. Với sắc lệnh này, lần đầu tiên tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giảng dạy chính thức ở tất cả các bậc học và trong mọi bộ môn khoa học.

Đây là một bước ngoặt vĩ đại trong giáo dục, đặt nền móng cho sự nghiệp nâng cao dân trí và cho nền độc lập văn hóa nói chung.

3. Trong thời đại hội nhập và chuyển đổi số hôm nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc không hề mất đi tính thời sự, mà trái lại, càng tỏa sáng như một ngọn đuốc.

Hội nhập là cần thiết, nhưng cũng có nghĩa là phải đối mặt với nguy cơ bị hòa tan. Công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, mở ra rất nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng mang đến rủi ro của sự nô dịch. Các nội dung số, với đặc trưng không biên giới, với tốc độ lan truyền nhanh, khả năng nhân bản vô hạn và chi phí tối thiểu, đang đặt ra rất nhiều vấn đề được - mất đối với nhân loại. Ở mức độ thấp nhất, chúng gây bão hòa đời sống tinh thần, hướng tâm trí con người ra khỏi những vấn đề cao cả, tước bỏ thời gian học tập của họ, đẩy họ chìm ngập vào những mối quan tâm vặt vãnh, những trào lưu thoảng qua. Ở mức độ cao hơn, thông tin có thể bị thao túng bằng thuật toán. Ở mức độ cao nhất, một vài quốc gia nắm công nghệ có thể trở thành những đế quốc số, còn các quốc gia lệ thuộc công nghệ có nguy cơ trở thành những thuộc địa số.

Trong bối cảnh đó, một lần nữa, vấn đề độc lập dân tộc lại được đặt ra một cách cấp thiết. Và một lần nữa, sứ mệnh của những nhà lãnh đạo là trả lời câu hỏi: Chúng ta phải làm gì để ứng phó với những rủi ro ấy, đồng thời không bỏ lỡ cơ hội của thời đại để xây dựng đất nước ta thực sự “Độc lập, tự do, hạnh phúc”?

TS Ngô Tự Lập

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/doc-lap-dan-toc-trong-tam-nhin-vuot-thoi-dai-cua-chu-tich-ho-chi-minh-1705548.html