Doanh nghiệp Nhà nước được đánh giá xếp loại thế nào?
Chính phủ ban hành Nghị định số về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
Theo đó, doanh nghiệp Nhà nước được đánh giá, xếp loại theo 5 chỉ tiêu bao gồm: tiêu chí về Tổng doanh thu; Lợi nhuận sau thuế; Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu; Giá trị khối lượng thực hiện hoặc giá trị giải ngân đối với dự án đầu tư do doanh nghiệp là cơ quan chủ quản theo Luật Đầu tư công; khoản đầu tư, dự án đầu tư do cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt theo quy định; Thực hiện nhiệm vụ được giao.
Với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Nghị định cũng quy định 5 căn cứ để đánh giá, xếp loại doanh nghiệp gồm: Mức độ thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao hằng năm; Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán của công ty mẹ; Kết quả giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, có xem xét loại trừ các tác động theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định này; Các vấn đề phát sinh tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
Về phương thức đánh giá, xếp loại doanh nghiệp, Nghị định quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu giao chỉ tiêu đánh giá, xếp loại cho công ty mẹ phù hợp với lĩnh vực hoạt động, chuyên ngành, đặc thù sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp, nhiệm vụ chiến lược hoặc nhiệm vụ được giao trong năm thực hiện.
Đối với doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định không giao chỉ tiêu 2 và 3 để phù hợp với hoạt động đặc thù của doanh nghiệp; căn cứ các chỉ tiêu được giao để thực hiện đánh giá, xếp loại doanh nghiệp.

Đánh giá, xếp loại doanh nghiệp theo 5 tiêu chí
Việc đánh giá doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở so sánh giữa nhiệm vụ, chỉ tiêu do cơ quan đại diện chủ sở hữu giao với kết quả thực hiện.
Đối với chỉ tiêu 1, 2 và 3, doanh nghiệp có kết quả thực hiện bằng hoặc cao hơn chỉ tiêu được giao đánh giá là Đạt.
Đối với chỉ tiêu 4, doanh nghiệp hoàn thành từ 90% trở lên giá trị khối lượng thực hiện hoặc giá trị giải ngân vốn đầu tư theo chỉ tiêu được giao đánh giá là Đạt.
Đối với chỉ tiêu 5, doanh nghiệp hoàn thành chỉ tiêu được giao về sản lượng, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ bảo đảm tiêu chuẩn quy định được đánh giá là Đạt. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh do cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá là Đạt hoặc không Đạt.
Nghị định cũng quy định, cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá, xếp loại doanh nghiệp theo hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, xem xét, quyết định loại trừ các yếu tố tác động, bao gồm do thực hiện nhiệm vụ chính trị được cơ quan có thẩm quyền giao; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận; việc thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới.
Cùng với đó là xem xét, đánh giá các yếu tố, nguyên nhân khách quan như: Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, chiến tranh và các nguyên nhân bất khả kháng khác được cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá, chấp thuận.
Nghị định cũng quy định việc phân loại doanh nghiệp theo 3 mức bào gồm: Doanh nghiệp xếp loại A, doanh nghiệp xếp loại B và doanh nghiệp xếp loại C. Đối với doanh nghiệp được xếp loại A khi đồng thời chỉ tiêu 1, 2 và 3 được đánh giá Đạt.
Doanh nghiệp xếp loại C khi có từ 03 chỉ tiêu trở lên không Đạt; hoặc chỉ tiêu 1 và chỉ tiêu 2 được đánh giá không Đạt.
Doanh nghiệp xếp loại B là doanh nghiệp không được xếp loại A hoặc loại C.
Đối với doanh nghiệp có hoạt động thường xuyên và chủ yếu là thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, căn cứ kết quả thực hiện cho từng chỉ tiêu 1, 2, 3 và chỉ tiêu 5 để xếp loại cho từng doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp xếp loại A khi đồng thời chỉ tiêu 1, 5 và 3 được đánh giá Đạt.
Doanh nghiệp xếp loại C khi có từ 03 chỉ tiêu trở lên không Đạt, hoặc chỉ tiêu 1 và chỉ tiêu 5 được đánh giá không Đạt.
Doanh nghiệp xếp loại B là doanh nghiệp không được xếp loại A hoặc loại C.
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ
Nghị định quy định tiêu chí đánh giá bao gồm: Kết quả thực hiện kế hoạch kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp đã được Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên thông qua.
Việc thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công do Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng; việc thực hiện nhiệm vụ chính trị do cơ quan có thẩm quyền giao, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, có loại trừ tác động do thực hiện nhiệm vụ chính trị do cơ quan có thẩm quyền giao; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận; việc thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới và tác động của yếu tố khách quan.
Kết quả giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Định kỳ hằng năm, người đại diện phần vốn Nhà nước do cơ quan đại diện chủ sở hữu cử, giới thiệu, thuê lập báo cáo đánh giá nội dung theo quy định của năm trước, báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu trước ngày 15/8 hằng năm.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên thông qua và quy định tại Điều 52 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.




























