Doanh nghiệp cần làm gì để biến giảm phát thải thành tín chỉ carbon?
Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư tiết kiệm năng lượng, cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, phần phát thải giảm được chưa chắc đã trở thành tín chỉ carbon.
Không thể tính một kết quả giảm phát thải hai lần
Chia sẻ tại phiên thảo luận chiều 14/8, trong khuôn khổ Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: “Từ chính sách đến hành động”, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu, cho biết, Nghị định số 112/2026/NĐ-CP đã quy định các lĩnh vực, biện pháp giảm phát thải và tỷ lệ kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được phép chuyển giao quốc tế.

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu.
Theo đó, các biện pháp, hoạt động giảm phát thải sử dụng công nghệ mới, có chi phí cao, chưa hoặc ít được triển khai tại Việt Nam có tỷ lệ chuyển giao tối đa 90%. Đối với các biện pháp, hoạt động đã được triển khai tại Việt Nam nhưng cần thêm sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 50%.
Nghị định cũng quy định việc điều chỉnh tương ứng đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được chuyển giao quốc tế. Toàn bộ hoạt động trao đổi quốc tế phải được ghi nhận trên Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
Về thủ tục thực hiện dự án, ông Nguyễn Thành Công cho biết, sau khi doanh nghiệp nộp hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ rà soát tính hợp lệ trong vòng 2 ngày làm việc. Thời gian đánh giá văn kiện dự án, lấy ý kiến các cơ quan liên quan và phản hồi chính thức cho doanh nghiệp khoảng 45 ngày.
Đối với các dự án đã được chấp thuận, sau khi lấy ý kiến của các bộ, ngành liên quan, cơ quan quản lý cần khoảng 15 ngày để ban hành thư chấp thuận chuyển giao quốc tế cho doanh nghiệp.
Cục Biến đổi khí hậu hiện phối hợp với các đối tác xây dựng sổ tay hướng dẫn với cách trình bày đơn giản, giúp doanh nghiệp tham khảo và thực hiện các bước của quy trình.

Các diễn gải trao đổi thảo luận, chia sẻ kinh nghiệp về cơ chế điều 6.4: Chất lượng tín chỉ và tính toàn vẹn môi trường tại sự kiện.
Đề cập đến tín chỉ carbon rừng, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho biết lâm nghiệp có lợi thế nhờ hệ thống điều tra, kiểm kê, theo dõi và công bố hiện trạng, diễn biến rừng đã được duy trì trong thời gian dài. Nền tảng dữ liệu này cho phép tính toán lượng giảm phát thải và đưa kết quả ra thẩm định.
Theo ông Phạm Hồng Lượng, tại Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ, trong kỳ báo cáo đầu tiên, Việt Nam đã chứng minh được kết quả giảm phát thải tương đương 16,2 triệu tấn CO₂ và được Ngân hàng Thế giới công nhận. Từ kết quả này, Việt Nam thực hiện hai lần chuyển nhượng với tổng khối lượng 11,3 triệu tấn CO₂, thu về 56,5 triệu USD.
Ông Phạm Hồng Lượng cho rằng diện tích rừng lớn hay khả năng hấp thụ carbon mới chỉ là tiềm năng. Để tạo được giá trị tài chính, lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải phải được tính toán bằng phương pháp phù hợp, có dữ liệu theo dõi và trải qua quá trình thẩm định, xác minh.
Một điều kiện khác là cơ chế chia sẻ lợi ích. Theo cơ chế được áp dụng tại chương trình Bắc Trung Bộ, Trung ương giữ lại 3,5% nguồn thu để phục vụ công tác quản lý, cấp tỉnh giữ 10%, phần còn lại được chi trả cho chủ rừng và các đối tượng hưởng lợi.
Nguồn thu từ chương trình đã được chi trả cho khoảng 80.000 chủ rừng, trong đó có khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng.
Doanh nghiệp phải bắt đầu từ dữ liệu phát thải
Từ thực tiễn của Tập đoàn TH, PGS.TS Sử Thanh Long, Giám đốc Dự án sữa quốc tế Tập đoàn TH, giảng viên cao cấp Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đã thực hiện đo đếm phát thải trong toàn bộ chuỗi sản xuất từ năm 2018.

PGS.TS Sử Thanh Long, Giám đốc Dự án sữa quốc tế Tập đoàn TH, giảng viên cao cấp Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Nền tảng dữ liệu được chuẩn bị từ sớm giúp doanh nghiệp xác định những khâu phát thải lớn và triển khai các giải pháp cắt giảm phù hợp. Đến năm 2023, hai đơn vị của tập đoàn đạt trạng thái trung hòa carbon. Một năm sau, 11 dòng sản phẩm tiếp tục được công nhận trung hòa carbon.
Tuy nhiên, ông Sử Thanh Long lưu ý phải phân biệt giữa lượng phát thải doanh nghiệp tự cắt giảm với tín chỉ carbon được cấp để giao dịch trên thị trường.
Khi doanh nghiệp cải tiến công nghệ, tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo để giảm phát thải trong hoạt động sản xuất, phần giảm được trước hết giúp doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm và mục tiêu môi trường của mình. Lượng giảm này không tự động chuyển thành tín chỉ carbon để bán và tạo thêm doanh thu.
Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp có mức phát thải dự kiến 900 tấn CO₂ nhưng sau khi cải tiến chỉ còn phát thải 100 tấn, phần 800 tấn đã cắt giảm có giá trị đối với mục tiêu giảm phát thải nội bộ. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể mặc nhiên quy đổi toàn bộ 800 tấn thành tín chỉ thương mại.
Muốn phát hành tín chỉ, hoạt động giảm phát thải phải được xây dựng thành chương trình, dự án theo một cơ chế hoặc tiêu chuẩn được công nhận. Dự án phải chứng minh tính bổ sung, nghĩa là lượng phát thải đó sẽ không được cắt giảm nếu không có nguồn lực từ cơ chế carbon. Đồng thời, dự án phải được đo đạc, báo cáo và thẩm định độc lập.
Yêu cầu về dữ liệu cũng thể hiện rõ trong các dự án nông nghiệp. Ông Phan Tiến Thành, Quản lý Phát triển kinh doanh, Công ty TNHH Green Carbon Japan Vietnam, cho biết doanh nghiệp đang triển khai dự án canh tác lúa giảm phát thải trên diện tích hơn 80.000 ha tại Việt Nam, áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ.
Với một dự án trải rộng trên diện tích lớn và có sự tham gia của nhiều nông hộ, trở ngại không chỉ nằm ở việc thay đổi kỹ thuật canh tác mà còn ở khâu thu thập, chuẩn hóa và xác thực dữ liệu.
Doanh nghiệp đã đưa các ứng dụng số trên điện thoại thông minh vào quá trình ghi nhật ký đồng ruộng. Cán bộ khuyến nông và nông dân có thể cập nhật hoạt động canh tác. Chính quyền địa phương cùng hệ thống khuyến nông cơ sở tham gia xác thực dữ liệu ban đầu.
Theo ông Phan Tiến Thành, dữ liệu đầu vào được chuẩn hóa, kết hợp với hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định, là điều kiện quan trọng để dự án đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Chất lượng dữ liệu quyết định dự án có được cấp tín chỉ hay không và ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tín chỉ khi đưa ra thị trường.
Thực tế này cho thấy, thị trường carbon không phải nơi doanh nghiệp gom các hoạt động bảo vệ môi trường đã thực hiện rồi quy đổi thành một nguồn thu mới. Muốn tham gia, doanh nghiệp cần chuyển từ cách ghi nhận những sáng kiến giảm phát thải riêng lẻ sang quản trị phát thải bằng dữ liệu, có đường cơ sở, phương pháp đo lường và hệ thống kiểm chứng.
Khung pháp lý cho giao dịch trong nước và chuyển giao quốc tế đang dần đầy đủ hơn. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành giá trị tài chính khi doanh nghiệp chứng minh được mỗi tín chỉ thực sự đại diện cho một tấn CO₂ đã được giảm hoặc hấp thụ, không bị tính trùng và đáp ứng đầy đủ điều kiện của thị trường tiếp nhận.

