Định giá lại du lịch Việt Nam từ Nghị quyết 26
Theo TS Dương Đức Minh, du lịch Việt Nam đã đi được một chặng đường rất xa về quy mô. Nhưng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Việt Nam cần một cách đo lường khác.

Với định hướng khẳng định vị thế du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu nâng đóng góp trực tiếp của ngành lên 10-12% GDP vào năm 2030 và 14-15% vào năm 2045 (gần gấp đôi mức 8,8% năm ngoái).
Việt Nam cũng đặt tham vọng tăng thứ hạng về quy mô, tốc độ tăng trưởng, năng lực cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.
Trao đổi với Tri Thức - Znews, TS Dương Đức Minh - Phó viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch - cho rằng để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Việt Nam không chỉ cần đông khách hơn, mà phải xây dựng một hệ thống đủ mạnh, khi đó thứ hạng tự dịch chuyển.
Cuộc chuyển mình của du lịch Việt Nam
- Ông đánh giá thế nào về việc Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam? Khi ấy, ngành sẽ đóng góp thế nào cho nền kinh tế chung, và tác động ra sao đến những lĩnh vực khác?
- Việc lựa chọn du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn không đơn thuần xuất phát từ quy mô doanh thu hay khả năng thu hút hàng chục triệu lượt khách. Theo tôi, nó còn dựa trên năng lực đặc biệt là biến những giá trị vốn tồn tại phân tán trong một quốc gia thành một hệ giá trị kinh tế có sức lan tỏa rất lớn.
Có thể thấy, Việt Nam không thiếu tài nguyên. Chúng ta có biển, đảo, núi, rừng, di sản, lịch sử, văn hóa, ẩm thực, làng nghề, cảnh quan, những vùng sinh thái đặc hữu và một đời sống xã hội giàu bản sắc. Nhưng tài nguyên, tự thân nó, chưa phải là của cải. Chỉ khi được nhận diện đúng, bảo tồn tốt, tổ chức khoa học, kết nối bằng hạ tầng, công nghệ, dịch vụ, sáng tạo và năng lực quản trị, tài nguyên mới trở thành sản phẩm.
Từ đó, sản phẩm mới hình thành trải nghiệm và trải nghiệm đủ khác biệt mới tạo nên giá trị gia tăng cao.

TS Dương Đức Minh - Phó viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch. Ảnh: NVCC.
Vì vậy, lựa chọn du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn thực chất là lựa chọn một phương thức phát triển có khả năng làm cho những giá trị đặc hữu của Việt Nam được định giá cao hơn trên thị trường trong nước và quốc tế, thay vì chỉ khai thác nhiều hơn.
Sức mạnh thứ hai của du lịch nằm ở hiệu ứng lan tỏa mà rất ít ngành kinh tế có được.
Một chuyến đi không chỉ tạo doanh thu cho khách sạn hay doanh nghiệp lữ hành. Đằng sau mỗi khoản chi tiêu của du khách là hàng không, đường sắt, vận tải, thương mại, nông nghiệp, thủy sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp văn hóa, giải trí, y tế, tài chính, công nghệ số và hàng loạt dịch vụ hỗ trợ khác. Du lịch vì thế không vận hành như một ngành biệt lập, mà như một “bộ khuếch đại giá trị” của nền kinh tế.
Đặc biệt, đây còn là một hình thức xuất khẩu tại chỗ. Thay vì đưa toàn bộ hàng hóa ra thế giới, chúng ta đưa thế giới đến Việt Nam để tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ, văn hóa và trải nghiệm.
Quan trọng hơn, dòng tiền ấy có thể đi đến những nơi mà nhiều ngành kinh tế hiện đại khó vươn tới như làng nghề, vùng nông thôn, miền núi, ven biển, hải đảo, vùng sinh thái và các cộng đồng đang sở hữu những giá trị đặc hữu nhưng chưa có điều kiện chuyển đổi thành nguồn lực phát triển.
- Nếu lấy mốc năm 2017, thời điểm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đến nay, ngành này đã phát triển đến đâu?
- Sau gần một thập niên, du lịch Việt Nam đã đi được một chặng đường rất xa về quy mô, nhưng đang đứng trước ngưỡng cửa khó hơn về chất lượng phát triển.
Năm 2017, Việt Nam đón gần 13 triệu lượt khách quốc tế, 73,2 triệu lượt khách nội địa, tổng thu hơn 541.000 tỷ đồng và đóng góp trực tiếp khoảng 7,9% GDP.
Cần lưu ý rằng ngành du lịch đã vượt qua cú đứt gãy chưa từng có của đại dịch Covid-19 để lập đỉnh mới cao hơn năm 2019. Số liệu gần đây nhất năm 2025, khách quốc tế đã đạt gần 21,2 triệu lượt, khách nội địa 137 triệu lượt và tổng thu khoảng 1 triệu tỷ đồng.

Vì vậy, thành tựu lớn nhất của Nghị quyết 08 không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng, mà còn là việc đưa du lịch từ vị thế một ngành giàu tiềm năng trở thành một cấu phần ngày càng rõ nét của nền kinh tế, kéo theo những thay đổi về hạ tầng, thị trường, chính sách thị thực, đầu tư, sản phẩm, chuyển đổi số và nhận thức xã hội.
Có thể khái quát rằng giai đoạn vừa qua, du lịch Việt Nam đã chứng minh được khả năng tăng trưởng, giai đoạn tới sẽ phải chứng minh năng lực tạo giá trị.

Điều quan trọng hơn, để khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi căn bản cách đo lường thành công. Việt Nam không thể tiếp tục tự hào chủ yếu bằng số lượng khách, bởi đông hơn chưa chắc đã giàu hơn, và tăng trưởng nhanh chưa chắc đã bền vững hơn.
Do đó, bài toán của Nghị quyết 26/2026 không đơn thuần là có nhiều khách hơn, mà còn là làm thế nào để một đơn vị tài nguyên tạo ra nhiều giá trị hơn, một du khách lưu trú lâu và chi tiêu nhiều hơn, một sản phẩm có hàm lượng văn hóa và sáng tạo cao hơn, một điểm đến tạo được nhiều lợi ích cho cư dân, trong khi môi trường cũng chịu tổn thương ít hơn.
Việt Nam trên bản đồ du lịch Đông Nam Á, thế giới
- Nhìn từ sự tăng trưởng đó, so với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, vị thế của du lịch Việt Nam đang ở đâu, thưa ông?
- Nếu nhìn vào lượng khách quốc tế năm 2024 (năm có bộ dữ liệu tương đối đồng nhất do UN Tourism tổng hợp trong ASEAN Tourism Outlook 2025), Thái Lan đón khoảng 35,5 triệu lượt khách, Malaysia khoảng 25 triệu lượt và Việt Nam khoảng 17,5 triệu lượt; tương ứng khoảng 29%, 21% và 14% tổng lượng khách quốc tế của ASEAN.
Cũng trong năm 2024, Thái Lan thu khoảng 42,7 tỷ USD, Malaysia khoảng 20,8 tỷ USD và Việt Nam khoảng 12,2 tỷ USD. Khi lấy tổng thu chia cho lượng khách, mức chi tiêu ở Thái Lan là 1.200 USD/lượt, ở Malaysia khoảng 830 USD và tại Việt Nam gần 700 USD.
Để có thêm một tham chiếu, UN Tourism ước tính năm 2024, mức bình quân toàn cầu khoảng 1.160 USD cho mỗi chuyến du lịch quốc tế.
Du lịch Việt Nam đang có khả năng mở rộng thị trường và tốc độ tăng trưởng tốt
TS Dương Đức Minh, Phó viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch
Những con số này cho thấy Việt Nam hoàn toàn có khả năng nâng mức chi tiêu, thay vì chỉ thu hút thêm khách du lịch, bằng cách tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ giá trị hơn. Đó là chưa kể, Việt Nam đang có khả năng mở rộng thị trường và tốc độ tăng trưởng tốt.
Để tạo ra giá trị, chúng ta không nên bán từng tài nguyên riêng lẻ mà phải kiến tạo những “hệ trải nghiệm”. Khi đó, di sản có thể kết nối với công nghiệp sáng tạo; nông nghiệp với ẩm thực; làng nghề với thiết kế và thương mại; biển đảo với nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và thể thao; còn đô thị có thể phát triển MICE, kinh tế đêm và các dịch vụ công nghệ.
Bước tiếp theo là tổ chức lại không gian du lịch theo mạng lưới thay vì để từng địa phương phát triển như những “ốc đảo sản phẩm”.
Giai đoạn tới, du lịch Việt Nam còn đặt tham vọng về thứ hạng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Theo tôi, chiến lược lớn nhất để đạt được mục tiêu này không nên là đuổi theo một thứ hạng. Việt Nam cần xây dựng một hệ thống đủ mạnh để thứ hạng tự dịch chuyển.
Khi thể chế khai thông nguồn lực, hạ tầng mở rộng không gian, dữ liệu nâng cao năng lực quản trị, doanh nghiệp tạo ra sản phẩm có hàm lượng sáng tạo cao, cộng đồng thực sự tham gia và hưởng lợi, còn văn hóa - thiên nhiên được gìn giữ như những nguồn vốn dài hạn, lợi thế của Việt Nam mới thực sự trở thành năng lực cạnh tranh.
- Nhìn vào chiến lược phát triển ngành du lịch của các quốc gia Đông Nam Á trong bối cảnh mới, ông cho rằng Việt Nam có thể “đuổi kịp” bằng cách nào?
- Các quốc gia dẫn dắt khu vực có xu hướng không xem số lượng khách là đích đến cuối cùng.
Chẳng hạn, Thái Lan công khai chuyển sang định hướng “Value over Volume”, ưu tiên doanh thu chất lượng, thị trường có khả năng chi tiêu cao, trải nghiệm có chiều sâu, phân bổ khách hợp lý hơn theo vùng và mùa, đồng thời tăng khả năng chống chịu trước biến động kinh tế, địa chính trị và năng lượng.
Hay Singapore đặt mục tiêu doanh thu du lịch tăng nhanh hơn lượng khách, tập trung đồng thời vào 3 vấn đề: tạo ra nguồn cầu có giá trị cao; liên tục làm mới sức hấp dẫn của điểm đến và xây dựng một ngành du lịch có năng suất, công nghệ và doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trong tương lai.
Khi hiểu sâu hơn về giá trị của một du khách, du lịch không chỉ tạo doanh thu trong vài ngày mà còn mở ra một quan hệ kinh tế có thể kéo dài nhiều năm
TS Dương Đức Minh
Indonesia cũng đang chuyển rõ sang “quality tourism”, với sự tham gia phối hợp của cơ quan quản lý về du lịch, cơ quan kế hoạch phát triển quốc gia và Ngân hàng Trung ương. Đây không phải những chiến dịch quảng bá riêng lẻ, mà là sự dịch chuyển trong cách cả hệ thống kinh tế nhìn nhận du lịch.
Nhìn lại ngành du lịch Việt Nam, tôi cho rằng nước ta cần trở thành điểm đến với những trải nghiệm khó tìm thấy ở nơi khác. Chưa kể, khi hiểu sâu hơn về giá trị của một du khách, du lịch không chỉ tạo doanh thu trong vài ngày mà còn mở ra một quan hệ kinh tế có thể kéo dài nhiều năm.
Ví dụ, một du khách yêu cà phê Việt Nam có thể tiếp tục mua sản phẩm này sau khi về nước; người ấn tượng với thủ công, thời trang, ẩm thực, nghệ thuật hay sản phẩm sáng tạo Việt Nam có thể tiếp tục trở thành khách hàng của doanh nghiệp Việt; người có trải nghiệm tốt có thể quay trở lại Việt Nam vào kỳ nghỉ, hội nghị, đầu tư, học tập hoặc giới thiệu cho những người khác.
Việt Nam muốn làm được điều đó, phía sau điểm đến phải tồn tại một hạ tầng giá trị đủ mạnh: thương mại điện tử để khách tiếp tục mua hàng, logistics xuyên biên giới để sản phẩm Việt Nam tiếp tục đến được với họ, thanh toán thuận tiện, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc để duy trì niềm tin.
Đồng thời còn có dữ liệu để doanh nghiệp hiểu khách, công nghiệp sáng tạo để liên tục làm mới câu chuyện, hàng không để duy trì kết nối, và hệ thống doanh nghiệp đủ năng lực để đưa một cảm xúc tốt trong chuyến đi thành một quan hệ tiêu dùng lâu dài.
Lúc ấy, du lịch - thương mại - văn hóa - công nghệ - đầu tư không còn là những lĩnh vực đứng cạnh nhau, mà trở thành một chuỗi giá trị liên tục. Đó cũng là cách Việt Nam có thể ứng phó tốt hơn trước những biến động khó lường bên ngoài.

TS Dương Đức Minh hiện là Phó viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch. Ông có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu về văn hóa - du lịch và tham gia tư vấn, đề xuất phát triển nhiều sản phẩm du lịch cho "siêu" đô thị TP.HCM và các địa phương khác trên cả nước.
