Điều không bao giờ thay đổi trong ngày Tết Việt

Tuy một số nghi lễ ngày Tết đã mai một theo thời gian, nhưng điều căn cốt trong văn hóa Việt vẫn nguyên vẹn qua những mâm cơm cúng, nén hương và lòng tri ân tổ tiên.

Không phải cây nêu, trầu cau hay câu đối đỏ, điều không bao giờ thay đổi trong ngày Tết của người Việt là truyền thống Hiếu Nghĩa mà con cháu dành cho tổ tiên. Điều đó thể hiện qua mâm cơm cúng, nén hương trên bàn thờ và giây phút sum vầy ngày Tết của nhiều gia đình.

Nhân dịp Tết Nguyên đán, nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà, tác giả sách Thờ cúng cổ truyền Việt Nam: Nghi lễ và thực hành nghi lễ, chia sẻ với Tri Thức - Znews về những nghi lễ ngày Tết và cách để người trẻ không sợ nghi lễ mà vẫn hiểu, thực hành đúng tinh thần, truyền thống của cha ông một cách nhẹ nhàng.

Giữ mâm cơm Tết, giữ nếp nhà

- Ông có nhiều năm nghiên cứu về các nghi lễ cổ truyền Việt Nam. Nhân dịp Tết đến, nhờ ông điểm qua những nghi lễ tiêu biểu trong dịp Tết Nguyên đán!

Bản thân tôi cũng may mắn được tiếp cận với nghi lễ thờ cúng từ năm 20 tuổi qua sự hướng dẫn của người thân trong gia đình. Sau đó, tôi tự tìm hiểu và từng bước được giao nhiệm vụ thực hành thờ cúng tại gia, đồng thời hướng dẫn lại cho người nhà, con cháu và mở rộng dần ra. Tính từ năm 1996 đến nay vừa tròn 30 năm nhưng để tự tin gọi bản thân là một người thực hành bài bản, hoạt động chuyên sâu thì tôi đã có khoảng 20 năm kinh nghiệm.

Đối với các lễ Tết của người Việt, chúng ta có thể tính từ Tết ông Táo (miền Bắc gọi là ông Công ông Táo) vào ngày 23 tháng Chạp. Sau đó là một chuỗi các nghi lễ nối tiếp nhau. Ví dụ ở Nam Bộ sẽ có thêm lễ cúng rước ông bà vào ngày 25 tháng Chạp. Lễ này mang tính chất báo cáo và mời ông bà về chuẩn bị ăn Tết. Đây cũng là lúc dọn dẹp bàn thờ, chăm sóc đất đai, dọn cỏ để chuẩn bị đón năm mới.

Chỉ cần giữ được ngày mùng 1 hay mâm cơm Tất niên thì tình thân và nếp nhà vẫn sẽ được bảo tồn.

Nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà

Sau ngày 25 tháng Chạp, đến ngày 30 (hoặc 29 nếu là năm thiếu) sẽ diễn ra Tết Đoàn viên với bữa cơm Tất niên, tiếp đến là đêm Giao thừa và sáng mùng Một - những nghi lễ rất quan trọng. Sau đó là lễ Hóa vàng hay lễ Hạ nêu. Thông thường, sau khi con cháu tụ họp ăn Tết xong, gia đình có thể chọn mùng 5 hoặc mùng 7 tháng Giêng để làm lễ Hạ nêu, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn ăn Tết cùng ông bà để bắt đầu bước vào nhịp sống thường nhật.

Xung quanh dịp Tết Nguyên Đán thường có khoảng 5 đến 7 nghi lễ như thế. Tiếp theo, đến ngày mùng 9 tháng Giêng có lễ cúng Ngọc Hoàng và ngày rằm tháng Giêng là Tết Nguyên Tiêu. Có thể nói, phải đến ngày rằm tháng Giêng thì cái Tết Nguyên Đán mới tạm gọi là trọn vẹn trong vòng hơn nửa tháng.

- Trong quá trình nghiên cứu, ông có ghi nhận được những nghi lễ Tết cổ truyền nào đã bị mai một theo thời gian không? Ngược lại, nghi lễ nào vẫn được giữ gìn?

Khi điều kiện kinh tế - xã hội tốt hơn, đời sống các gia đình ở từng vùng miền ổn định và khá giả hơn thì việc hướng đến các nghi lễ thờ cúng tổ tiên lại rất được coi trọng. Tuy nhiên, cũng có những nghi lễ ít được phục dựng, chỉ còn một vài nếp gia đình thực sự có ý thức và tâm huyết mới duy trì. Ví dụ như tục dựng nêu đón Tết hiện không còn phổ biến lắm. Tục này chủ yếu chỉ còn ở các phủ thờ hoặc một số đình chùa còn giữ nếp xưa cổ. Người ta thường long trọng tổ chức dựng cây nêu vào khoảng ngày 25 và phải hoàn tất trước ngày 30 Tết.

 Nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà tập trung nghiên cứu, thực hành nghi thức thờ cúng của người Việt, đồng thời hướng dẫn các việc liên quan đến đời sống tâm linh. Ảnh: Khánh Linh.

Nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà tập trung nghiên cứu, thực hành nghi thức thờ cúng của người Việt, đồng thời hướng dẫn các việc liên quan đến đời sống tâm linh. Ảnh: Khánh Linh.

Một hiện tượng khác là tục Tết Trâu vào ngày mùng 5 tháng Giêng. Vì nước ta là nước nông nghiệp nên người dân, nhất là ở Nam Bộ, thường cho trâu ăn những món ngon - những thứ mà bình thường chúng không được ăn - để tỏ lòng trân trọng vì “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Hiện nay, do máy cày đã thay thế sức kéo nên con trâu không còn xuất hiện nhiều, phong tục gắn liền với nó cũng dần mai một.

Ngược lại, các nghi lễ chính như cúng ông bà ngày 30 Tết, Tất niên, Giao thừa, mùng 1 và lễ Hạ nêu (Hóa vàng) gần như vẫn được giữ nguyên xi. Tại các đô thị, dù gần đây có xu hướng đi du lịch dịp Tết, người Việt vẫn có cách xử lý rất hài hòa. Họ thường đợi cúng Tất niên, Giao thừa hoặc mùng 1 xong xuôi rồi mới khởi hành. Như vậy, chúng ta vẫn giữ gìn được nếp văn hóa cũ, giữ được nén nhang khói tươm tất cho ông bà nhưng vẫn linh hoạt kết hợp với nhịp sống mới.

Theo quan điểm của tôi, chỉ cần giữ được ngày mùng 1 hay mâm cơm Tất niên thì tình thân và nếp nhà vẫn sẽ được bảo tồn tốt.

Văn hóa của tiền nhân - lãi kép cho hậu sinh

- Trong nhiều nghiên cứu, ông khẳng định điều căn cốt nhất trong các nghi lễ cổ truyền của người Việt là “truyền thống Hiếu Nghĩa”. Tại sao như vậy?

Truyền thống Hiếu Nghĩa chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các nghi lễ. Dù nền văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa hỗn dung, tức là sự dung hợp các tư tưởng và triết lý văn hóa khác nhau, từ tín ngưỡng bản địa đa thần của người Việt cổ đến việc tiếp thu tinh hoa từ Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo - tất cả đã tạo nên tín ngưỡng thờ cúng cổ truyền đặc trưng.

Sự hỗn dung này mang tính bao dung, chắt lọc để trở thành một giá trị riêng của văn hóa Việt Nam, mà trong đó, truyền thống Hiếu Nghĩa là nổi bật nhất. Tôi lấy ví dụ, khi đạo Công giáo mới đến Việt Nam, việc thờ cúng ông bà và nghi lễ Công giáo từng có lúc chưa tìm được tiếng nói chung. Phải sau Đại hội toàn quốc về Truyền bá Phúc Âm diễn ra tại Nha Trang năm 1974, giáo dân được phép lập bàn thờ và thực hiện các nghi thức bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà tiên tổ nhất là vào các dịp giỗ, tết. Điều này chứng tỏ truyền thống Hiếu Nghĩa không thể tách rời khỏi đời sống tinh thần của người Việt.

Lòng thành kính và sự hiểu biết căn bản sẽ giúp chúng ta tự tin thực hành việc dâng hương, lễ cúng một cách bài bản, tiết kiệm và phù hợp với nhịp sống hiện nay.

Nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà

Mọi người có thể theo một tín ngưỡng hay tôn giáo khác nhưng tinh thần Hiếu Nghĩa, tức là lòng tri ân thành kính đối với tổ tiên, không bao giờ phai nhạt mà như ngọn lửa âm ỉ cháy mãi. Dù hình thức có thể khác nhau như người bên Lương (cách gọi chỉ những người không theo đạo Công giáo - PV) thắp nhang cúng cơm, người Công giáo đến nhà thờ cầu nguyện hay ra mộ tảo thanh, thắp hương dâng hoa quả. Tất cả có một cái “chất” của người Việt là đạo làm con, đạo hiếu thảo.

Tôi kết luận rằng đạo Hiếu Nghĩa là căn cốt nhất của người Việt, vượt qua mọi ranh giới về tín ngưỡng, tôn giáo hay vùng miền từ Bắc chí Nam. Đó chính là gia bảo, là quốc bảo mà con cháu nên gìn giữ và lưu truyền qua các thế hệ. Dù thời cuộc có thay đổi hay các nền văn minh có giao lưu, hội tụ thì tôi tin “viên ngọc” này vẫn sẽ còn mãi. Đây cũng chính là điều tôi tâm đắc nhất khi hoàn thành hai cuốn sách về thờ cúng. Tôi cảm thấy mình quá may mắn khi được học hỏi và kế thừa những nét văn hóa đặc biệt này từ tiền nhân; đối với bản thân tôi, đó thực sự là một “lãi kép”.

- Không ít gia đình, cá nhân chia sẻ bản thân bị những nghi lễ bó buộc, thậm chí cảm thấy nhẹ nhõm khi bỏ qua những nghi lễ đó và xem kỳ nghỉ Tết đơn giản là những ngày không phải làm việc. Ông nghĩ sao về điều này?

Câu hỏi này rất thú vị, nó thực tế và cũng là những thao thức của bản thân tôi. Khi bắt tay nghiên cứu để viết sách, tôi cũng từng trải qua những nghi lễ của gia đình, chẳng hạn như các nghi thức trong tang lễ: cúng tuần, cúng thất, 49 ngày, xả tang... Bản thân tôi trước đây là một người trẻ, tôi cũng cảm thấy nó rất rườm rà và khó hiểu. Phần lớn các bài kinh, bài khấn, nghi thức theo lối cổ thường dùng chữ Hán nên rất khó tiếp cận. Một buổi lễ có khi kéo dài 2-3 tiếng, quỳ lạy rất mệt mỏi. Lúc đó tôi cố gắng lắng nghe để hiểu ý nghĩa là gì nhưng gần như bất lực và cảm thấy rất phiền toái.

Vì vậy, khi nghiên cứu về văn hóa cổ truyền, tôi luôn thao thức làm sao có thể giản lược các nghi lễ này mà vẫn đảm bảo giữ được phần cốt lõi, thâm ý mà ông cha muốn trao cho con cháu. Bỏ qua hình thức, cái cốt yếu chính là cái tình, lòng hiếu kính và sự tri ân “uống nước nhớ nguồn”. Từ kinh nghiệm thực hành và nghiên cứu, tôi đã đúc rút thành tám nguyên tắc thờ cúng và ba đặc trưng: tính triết lý, tính thực tiễn giản dị - giàu nhân văn và tính thống nhất trong đa dạng.

Nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà cho rằng mâm cơm tất niên là một trong những điều quan trọng nhất của ngày Tết Nguyên đán. Ảnh: Thành Đông.

Nhà nghiên cứu Quách Trọng Trà cho rằng mâm cơm tất niên là một trong những điều quan trọng nhất của ngày Tết Nguyên đán. Ảnh: Thành Đông.

Tôi thấy rất hạnh phúc vì nghi lễ của tiền nhân vẫn có thể đúc kết thành những nguyên tắc chuẩn mực. Việc giản lược là hoàn toàn có thể nếu chúng ta nắm vững các nguyên tắc đó để làm cho nghi lễ trở nên dễ hiểu, gần gũi hơn với người trẻ. Đứng trước bối cảnh xã hội thay đổi, tôi hoàn toàn tán thành việc rút gọn. Tuy nhiên, trước khi giản lược, chúng ta nên nắm được những nguyên tắc nhất định. Ví dụ, thờ thì phải có hương, có lễ vật dù chỉ là hoa quả trong vườn hay chiếc bánh con cháu tự tay nấu dâng lên. Tất cả phải thể hiện được tinh thần trân trọng, nhớ ơn và thành kính.

Mọi người có thể giản lược hình thức nhưng những nét cốt lõi thì phải giữ nguyên. Lễ vật phải sạch sẽ, thân thể và tấm lòng người cúng cũng phải trong sạch. Thay vì lễ lạy phức tạp theo cách truyền thống, ta có thể chỉ cần đứng xá 3 xá và thắp nén nhang cho thẳng.

Tôi nghĩ các bạn trẻ nên tìm hiểu và các bậc phụ huynh nên truyền dạy để con cháu thấy rằng tuy có lớp lang bài bản nhưng thật ra nghi lễ rất đơn giản nếu hiểu đúng. Không cần lo sợ cúng ít hay nhiều, không cần “mâm cao cỗ đầy” hay nhiều giấy tiền vàng bạc, cũng không nhất thiết phải mời thầy về tụng rình rang. Chính lòng thành kính và sự hiểu biết căn bản sẽ giúp chúng ta tự tin thực hành việc dâng hương, lễ cúng một cách bài bản, tiết kiệm và phù hợp với nhịp sống hiện nay.

Đức An - Khánh Linh

Nguồn Znews: https://znews.vn/dieu-khong-bao-gio-thay-doi-trong-ngay-tet-viet-post1626393.html