Di ảnh

Sau khi rời làng Nội, bố theo cô Châu về Nậm Na, được ông lang dựng cho căn nhà nhỏ. Biết vùng cao thiếu vôi, bố mở lò nung vôi bán cho bà con. Muốn có vôi tốt, bố phải lên tận cổng trời, vùng núi đá heo hút. Có khi cả tháng không về. Một lần, cô Châu theo lên lán phụ giúp ông. Tai họa ập đến, hầm đá trên cổng trời sập. Mãi ba ngày sau người ta mới đưa được thi thể hai người về bản Thái.

1.

Một ngày đầu xuân, công ty tôi có dự án mới trên vùng cao Tây Bắc, nơi đỉnh Khau Mun ẩn trong mây trắng lững lờ. Ngay khi đặt chân đến, tim tôi nhói lên, nghe mẹ kể nơi này, năm xưa, bố từng đến và không trở về…

Mùa xuân trên núi lạ lẫm. Hoa ban trắng ngần phủ kín triền đồi, hoa đào phớt hồng như lửa nhỏ trong sương. Khi công trình hoàn thành, đúng dịp bản tổ chức hội Lùng Tùng, trưởng bản mời tôi dự lễ. Tiếng sáo hòa cùng nhịp chiêng rộn rã, trai gái váy áo rực rỡ nhảy múa vòng tròn. Giữa đám đông, một ông già tóc bạc như mây, mắt sâu thẳm, lặng lẽ bước tới. Ông đặt tay gầy gò lên vai tôi, giọng trầm đục như vọng từ giấc mơ:

- Cậu quê Vĩnh Thịnh đúng không?

- Dạ… cụ là…?

Ông già khẽ vuốt chòm râu bạc như cước, đôi mắt hằn sâu dưới vầng trán nhăn nheo nhưng vẫn ánh lên tia sáng lạ. Cái nhìn chăm chăm của cụ xoáy thẳng vào tôi, khiến sống lưng tôi thoáng lạnh.

- Cậu… cậu là con trai của người thợ cả năm xưa?

Tôi giật thót, lắp bắp:

- Thưa cụ… con chưa từng gặp người!

Minh họa: Đặng Tiến

Minh họa: Đặng Tiến

Ông già đưa tay run run đặt lên vai tôi, giọng khàn đặc như vọng lên từ một vách đá xa xăm:

- Đừng vội chối. Đôi mắt này, y như khuôn, ta không nhầm đâu! Năm xưa, ông ấy cũng mang ánh mắt như thế. Một ánh mắt vừa giấu niềm thương, vừa cất nỗi buồn chưa bao giờ dứt.

- Anh theo tôi. Có thứ này… anh cần phải nhìn thấy.

Tôi theo cụ băng qua con đường đất đỏ, vào căn nhà sàn lợp mái đá đen. Gian trái phía cầu thang nhà sàn, một tấm di ảnh cũ bạc màu. Tôi bước lại, tay tự nhiên run lên. Giọng tôi nghèn nghẹn, “là bố tôi. Cụ là ai…?”.

- Lên đây con.

Một thanh niên bước lên từ cầu thang nhà sàn. Tôi giật mình, ngước nhìn anh, dáng cao gầy, khuôn mặt thanh tú, nước da trắng, sống mũi cao. Giọng ông lão chắc nịch:

- Nó là Hà, em cậu đó! - Tôi chết lặng. Khoảnh khắc ấy, tôi như kẻ bị chuột rút chới với giữa dòng nước xoáy. Trong tình cảnh này tôi thấy vừa quen vừa xót xa…

2.

Thuở bé, tôi vẫn thường nghe bà nội kể, bố tôi là người tài hoa, cao ráo, sáng sủa. Bố có nét giống ông Chiêu - anh trai ông nội. Ông Chiêu từ thuở thiếu thời đã sáng trí hơn người, bởi chăm chỉ sách đèn. Ông thạo chữ Nho chẳng phải chỉ để mưu cầu công danh, mà để rèn tâm, dưỡng tính, để trở thành người có học, có đạo, sống ngay thẳng giữa đời. Nhưng thật trớ trêu, vừa mười tám tuổi, ông bị thực dân Pháp bắt đi quân dịch.

Nghe người làng phong thanh rằng sau này ông làm đốc tờ cho quân Pháp. Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn, phiêu dạt nơi đất khách. Mãi đến năm 1990, ông mới mới trở về, mang theo dáng vẻ phong trần của kẻ tha hương sau gần bảy mươi năm. Lần về ấy, ông đứng lặng bên từng gò đất cũ, rồi dốc sức quy tập mồ mả tổ tiên về một nơi, coi như đã trọn được tâm nguyện. Công việc xong, ông theo các con sang Mỹ định cư, khép lại hành trình một đời bao năm dâu bể nổi trôi.

Bố tôi là con út trong gia đình có chín người con. Nội tôi từng là pháo thủ trong trận Điện Biên năm xưa. Chiến tranh ác liệt là thế, bạn bè đồng đội hy sinh gần hết, riêng ông chỉ bị thương nhẹ. Kháng chiến chống Mỹ, các bác tôi lần lượt khoác ba lô lên đường Nam tiến. Ngày cả xã chia tay các bác lên đường nhập ngũ, lúc ấy bố tôi mới còn ẵm ngửa. Hòa bình lập lại, các bác trở về, người còn nguyên vẹn, người mang trong mình mảnh đạn ghim vào da thịt. Bà nội bảo thế là “phúc cả mả dầy” được tổ tiên phù hộ chở che mới được như vậy đó.

Khi bố tôi học hết lớp 9 trường làng là thời điểm cả xã đang sôi nổi bước vào phong trào xây dựng nông thôn mới. Theo chủ trương của xã, bà con bỏ dần những chiếc chuồng lợn bằng cũi tre ọp ẹp, thay bằng chuồng gạch kiên cố, cùng hố xí hai ngăn sạch sẽ, vừa hợp vệ sinh vừa tăng nguồn phân hữu cơ cho sản xuất trồng trọt. Khi cái loa cầm tay của ủy ban xã oang oang thông báo, có người của Ty Xây dựng về tuyển công nhân. Nghe tin ấy, bố háo hức, hăm hở đăng ký ngay tốp đầu vào lớp sơ cấp xây dựng, như thể đang nắm lấy cơ hội mới mở ra trước mắt, để góp sức vào công cuộc đổi thay quê hương.

Ngày tôi chào đời cả họ vui như đi hôi cá ao làng, nhất là ông nội, vì chắc chắn trăm phần trăm, tôi là cháu đích tôn dòng họ Hà. Bởi lẽ, các bác đều công tác ở Hà Nội, ai cũng yên bề. Bác cả sinh được một chị, nhưng tâm tính bất thường, là hậu quả của những năm bác ở Trường Sơn. Còn bác hai được hai cô con gái, cũng may lành lặn cả. Ông nội đặt tên tôi “Hoàn” - “Hà Khải Hoàn” - như một khúc ca chiến thắng nối dài truyền thống dòng tộc.

Lên năm, cơ quan mẹ chuyển về Vĩnh Ninh, do đó bố mẹ phải gửi tôi về quê để ông bà chăm. Những năm đầu thập niên tám mươi, làng Nội còn đói nặng. Cái đói hiện trên những vách tường trát vữa bằng rơm, trên vạt quần bạc phếch của lũ trẻ, trên gò má xanh xao của phụ nữ nơi bếp nhà. Nhà nội đông miệng ăn, đến bữa cứ phải hai mâm.

Đã thành thông lệ, từ sáng tinh mơ bà nội dậy sớm nhất để sắp bữa cho cả ngày. Trước tiên là khoai lang cạo vỏ, chuối xanh bổ làm tư, ngô, sắn mọt cho vào ngâm ải qua nước vôi trong đến khi bung ra như hoa nở, đợi cơm sệt sệt sôi đổ vào nồi khuấy đều. Biết tôi khó ăn, nên khi độn cơm, bà thường tránh góc nồi không khuấy đến. Hàng tháng, mẹ vẫn gửi gạo đỏ kèm bột mì, bo bo về phụ bà.

3.

Rồi thời bao cấp cũng qua. Cơ chế thị trường mở ra, làng Nội rộn ràng hẳn lên. Những mái rạ cũ kỹ dần được thay bằng nhà cấp bốn, tường vôi quét trắng. Nhu cầu thợ nề tăng cao, ai cũng muốn xây một mái nhà chắc chắn. Bố nhìn quanh, lòng vừa háo hức vừa lo lắng. Sau nhiều đêm trăn trở, bố quyết định bỏ công việc biên chế nhà nước để ra ngoài làm tự do. Bố làm không hết việc, còn đào tạo cả một đội thợ giỏi tay nghề. Thi thoảng bố đoảng về nhà, nhưng cũng chỉ ở được ít hôm rồi lại tất bật đi công trình.

Có lần bố ở nhà khá lâu, ông nội sinh nghi, gặng hỏi, bố lấy lí do lảng tránh cho qua chuyện. Việc bố nghỉ nhà nước cũng đến tai ông nội. Biết chuyện, ông giận tím mặt. Ông bảo, làm nhà nước mới đàng hoàng, có lương hưu, có sổ gạo. Ông vẫn thế, đã nói là to, mỗi bận như thế cả nhà im phăng phắc:

- Nhà nước cho mày ăn học để xây dựng đất nước, giờ có tí nghề ngỗng trong tay lại bỏ ra ngoài đầu cơ kiếm chác! Như thế là theo chủ nghĩa cá nhân, là con phe, đồ vô tổ chức, rồi cũng hỏng thôi!

Bố lặng im, bàn tay vò chiếc mũ cối đã sờn mép, đôi mắt dõi xa ra con đê hun hút. Rồi ông quay lưng bước vào buồng, để lại phía sau một khoảng lặng nặng như tảng đá chẹn ngang lối. Thời gian cứ thế trôi, sự im lặng bám riết lấy căn nhà.

Một sáng sớm, chiếc xe U-oát tiến thẳng vào sân. Bố vội vàng chào cả nhà, cùng bạn lên vùng cao làm ăn, bố bảo chuyến này đi chắc lâu mới về. Ông nội vẫn lặng thinh, đôi mắt tối lại. Ngoài kia, gió sông hun hút thổi, cuốn theo tiếng xe xa dần. Bố cúi đầu, lặng lẽ bước đi, dáng người nhỏ lại trong làn bụi đỏ. Năm sau bố về trên con “bình bịch” cũ, phía sau là một người đàn bà ôm cái bụng vượt mặt. Tiếng xe nổ ròn tan trong sân gạch như thách thức cái tĩnh mịch vốn có của buổi trưa nơi thôn Nội. Được tin bố về, mẹ tôi hỏa tốc về ngay. Cái dáng thấp bé, gầy guộc ấy như bị gió cuốn, rồi khựng lại khi bắt gặp cảnh bố quỳ trước ông nội trong gian chính.

- Thầy ạ, đây là Châu, chúng con đã…

Mắt nội đỏ lên, long sòng sọc như tóe lửa. Bất ngờ, cái chén men hồng trong tay ông vỡ choang, mảnh sứ bắn tung tóe trên nền đất. Cả nhà sững sờ, nín thở. Ngoài sân, tiếng chó sủa ran, rồi im bặt, để lại một khoảng lặng đặc quánh đến nghẹt thở:

- Loại hoang đàn mất dạy, trăng hoa còn dám vác cái mặt về nhà này à?

Bố vẫn quỳ đó, mặt vẫn bình thản, hẳn ông ra ngoài va chạm nên cứng cáp hơn:

- Thầy ạ! Con đưa cô ấy về, là muốn thưa chuyện với thầy u.

- Không thưa gửi gì, loại “mèo mả gà đồng”. Cút! Cút ngay!

Bố cũng không vừa, ông lồng lên như con thú khi bị thợ săn dồn tới đường cùng:

- Thầy quá lắm! Vợ con cũng do thầy chọn, thầy cưới, nay con đưa cô ấy xin phép, thưa chuyện thì thầy hắt hủi.

Ngồi trong gian dĩ*, nước mắt mẹ cứ tứa ra, người đàn bà cùi gằm mặt.

- Rồi có ngày thầy phải ân hận! Đi… đi thôi!

Tiếng hét của bố xé toang khoảng sân, khô rát và lạnh lùng như nhát dao chém thẳng vào tim: Con Honda 67 nổ inh tai, để lại phía sau một ụ khói đen kịt như người ta đốt đống nhấm trên đồng sau khi thu hoạch. Với theo làn khói ấy là tiếng khóc bà nội “Con ơi là con, cho u xin. Đừng đi!”. Mẹ ôm tôi vừa chạy, vừa khóc rống lên như đứa trẻ oan đòn. Bầu trời ngày đông màu xám đục, gió thổi phần phật trên triền đê. Tiếng khóc tan vào gió, mênh mang như một điệu nhạc buồn không dứt. Những đám cỏ may chi chít bám vào gấu quần tôi, tựa như dấu vết của thời gian cứ khăng khăng níu kéo, nhắc nhở con người rằng, ngay cả trong ngày đông lạnh lẽo nhất, sự gắn bó cũng không bao giờ buông.

4.

Cái tính của bố khác người, ra ngoài thì hào hoa, về nhà có khi cả ngày chẳng nói với mẹ nửa lời, hỏi thì cứ ừ à. Bà bảo: “Có mày, thằng bố mày nó mới vui đấy”.

Bà kể thời đó, làng vẫn giữ tục dạm ngõ từ bao đời. Hễ bố mẹ ưng đám nào thì sắm cơi trầu, tối mang sang “đặt gạch” coi như đánh tiếng xí phần. Nếu nhà gái không thuận thì trả lễ, vẫn lễ đó đem sang đám khác, khi nào tìm được nơi gật đầu mới thôi. Làng gọi vui là tục “quăng tải”. Mẹ, con gái ông Hòa “cối”, người thợ tài hoa nổi tiếng khắp vùng. Ông Hòa lại là tổ viên trong tổ kéo hợp tác xã do ông nội tôi làm tổ trưởng. Mối duyên ấy khởi đầu bằng một đêm dạm ngõ, bên ấm trà xanh bốc khói. Nội tôi chọn mẹ cho bố, như thể chọn cho con một chỗ đậu chắc chắn trên nhành cây gia tộc.

Mùa hè, tôi nằm dưới làn gió quạt mo của bà, câu ca dao xưa cứ văng vẳng như nỗi niềm truyền kiếp:

Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

Nhiều lần tôi bắt gặp đôi mắt mẹ đỏ hoe, gục đầu vào lòng bà nội, lại thấy bàn tay bà gầy guộc lặng lẽ đưa khăn mẹ chùi mắt.

Tuổi thơ tôi thích nhất là những cuối tuần được đi theo bố ăn chực, được chơi trò mình thích. Kể cũng sướng thật, chẳng phải làm gì, đến bữa được ăn no cơm trắng có cả thức ăn. Nhà nào rộng tay thì có cá, thịt. Nhà kiệt đi nữa cũng có gắp cá mắm nướng, bẻ ăn với cơm trắng, đượm, bùi hao cơm lắm! Bố dành dụm từng tờ tem phiếu, gom góp suốt mấy năm mới mua được chiếc xe đạp Thống Nhất màu xanh rêu. Cuối tuần, bố đạp xe cả chục cây số về quê, chở theo bị gạo, miếng thịt, mấy viên kẹo dồi, cả nhà ai cũng vui khi bố về.

Tôi nhớ lắm, những buổi chiều chạng vạng, Bố dắt tôi ra triền đê đầu làng, gió sông mơn man thổi ràn rạt qua những ngọn cỏ gà. Hai bố con tha hồ chạy nhảy, vo đất thành những quả pháo nổ bé xíu. Tiếng bụp bụp vang giòn, đất văng tung tóe lên mặt, tôi cười khanh khách, mắt híp lại vì vui sướng. Mỗi lần pháo đất kêu to, tôi lại nhảy cẫng lên reo hò, còn bố đứng cười hiền, đôi mắt đầy ắp yêu thương. Cái triền đê chiều ấy trở thành sân chơi của riêng hai bố con, nơi tôi thấy mình bé nhỏ mà hạnh phúc, tay nắm chặt lấy bàn tay ấm áp của bố, ngỡ như niềm vui tuổi thơ sẽ còn vang mãi cùng tiếng pháo đất nổ giòn tan. Tuổi thơ tôi dù nhiều thiếu thốn, nhưng vẫn đầy ắp tiếng cười.

Từ dạo bố bỏ đi theo người đàn bà kia, ông nội lặng hẳn, ít nói đến mức trong nhà chỉ còn nghe tiếng thở dài nặng như gió hun hút qua mái gianh. Nỗi buồn gặm nhấm, dần dà ông ngã bệnh. Trong cơn hấp hối, bàn tay ông khô héo mà vẫn nắm chặt tay tôi và mẹ, đôi mắt hoe đục ánh lên chút lửa tàn. Giọng ông đứt quãng, như cố nén hết hơi sức còn lại:

- Thoa… con… thầy có lỗi… hãy giúp thằng Hoàn nên người. Dẫu bố nó thế nào… nó vẫn là máu mủ, là nối dõi họ Hà…

Nói rồi, ông buông tay, ánh mắt chậm rãi khép lại, để lại sau lưng một khoảng lặng lạnh buốt, nặng trĩu cả gian nhà.

Họ cử người lên mạn ngược tìm bố, nhưng bóng dáng ông vẫn “bặt vô âm tín”. Vài năm sau, bà nội cũng theo ông về cõi khác, bỏ lại mẹ con tôi bơ vơ giữa làng. Bố vẫn biệt tích. Người làng kháo nhau, ông đã bị người đàn bà mạn ngược “chài” chặt, chẳng còn đường về nữa.

5.

- Các con hãy ngồi xuống - Giọng ông già chậm rãi - Ta là thầy lang năm ấy đã cứu cha các con. Ông ấy mắc sốt rét rừng nặng lắm. Con gái ta, trèo lên tận gốc Tùng già trên đỉnh Khau Mun để kiếm giun đất về sắc thuốc. Hôm ông tỉnh lại, ta đã thấy trong mắt ông ấy hai điều trái ngược, nhớ gia đình dưới xuôi và thương con gái ta.

Ông lão dừng lại, mở chiếc hòm gỗ cũ trong góc nhà, lấy ra phong thư giấy đã úa vàng, nhẹ nhàng trao cho tôi.

"Nậm Na, ngày… tháng… năm…

Thầy U, kính nhớ!

Em và con, hãy tha thứ cho anh!... Trong một lần nhận công trình ở vùng cao Nậm Na, anh bị sốt rét rừng, thuốc men khan hiếm, cơn sốt hành hạ tưởng chết đi sống lại. Bà con chỉ đến ông lang người Thái, nhờ vậy anh mới qua khỏi. Người trực tiếp cứu anh là Châu - con gái ông. Để có thuốc, Châu phải lặn lội trong đêm lên núi Mun, giăng đèn bên gốc tùng trăm tuổi, tìm đủ bảy con giun ăn sương núi, rồi sao vàng hạ thổ sắc cùng lá thuốc. Nhờ vậy anh sống.

Sau trận ốm ấy, giữa anh và Châu nảy sinh tình cảm. Dù biết anh có vợ, Châu vẫn thương. Cô bảo không hề trách anh. Anh không thể quay lưng, nên quyết đưa Châu về quê thưa chuyện với thầy u, với em. Nhưng thầy không chấp nhận. Một ngày gần nhất, anh sẽ trở lại, xin thầy u, em và con cho Châu một chỗ đứng...”.

Sau khi rời làng Nội, bố theo cô Châu về Nậm Na, được ông lang dựng cho căn nhà nhỏ. Biết vùng cao thiếu vôi, bố mở lò nung vôi bán cho bà con. Muốn có vôi tốt, bố phải lên tận cổng trời, vùng núi đá heo hút. Có khi cả tháng không về. Một lần, cô Châu theo lên lán phụ giúp ông. Tai họa ập đến, hầm đá trên cổng trời sập. Mãi ba ngày sau người ta mới đưa được thi thể hai người về bản Thái. Căn phòng lặng như tờ. Tôi ngồi đó, tay ôm chặt bức thư, lòng trĩu xuống. Hà đưa tay gạt giọt nước trên má. Tôi nhìn di ảnh bố. Ánh mắt ông như đang mỉm cười, dịu dàng, nhưng buồn. Tôi cúi đầu thắp nhang. Phía sau lưng, Hà lặng lẽ đứng, dáng vẻ lẫn trong bóng nắng cuối chiều.

Hôm sau, Hà đưa tôi lên triền đồi nơi bố và cô Châu yên nghỉ. Con đường đất đỏ uốn lượn giữa rừng lau khô, gió thổi ràn rạt qua những vạt cỏ cháy vàng. Nắng cuối xuân rơi lấp lóa trên vai, trên tấm lưng còng của ông thầy lang lặng lẽ đi phía trước. Mộ phần được xếp bằng đá xanh, cỏ dại lúp xúp mọc quanh, mấy bông hoa rừng tím nhạt nghiêng đầu trong gió. Tôi quỳ xuống, tay run run châm nén nhang. Khói hương tỏa lên, tan vào khoảng trời bát ngát. Mùi hương ngai ngái như đánh thức bao ký ức đã phủ bụi.

Tôi khẽ khàng cất giọng, như nói với chính mình: “Bố… cô Châu… ngày ấy con chỉ là đứa trẻ, chẳng hiểu nổi vì sao người đi biền biệt không về. Những kỉ niệm tuổi thơ trong con về bố chưa bao giờ cũ…”. Gió trên đỉnh Khau Mun thổi từng cơn lạnh lẽo, làm mắt tôi cay xè. Hà lặng lẽ quỳ bên cạnh, tay đặt lên tảng đá mộ, giọng run run: “Mẹ tôi từng kể, cái đêm bố ốm mê man sốt rét, mẹ ngồi cả đêm không dám chợp mắt. Mẹ bảo chỉ cần ông ấy sống, mẹ sẵn sàng chịu tất cả tiếng đời…”.

Tôi nhìn sang, mắt Hà hoe đỏ. Giọng Hà nói như lẫn vào tiếng gió: “Anh, ngày đó mẹ cứu bố bằng tất cả tâm can, bằng cả niềm tin cuối cùng nơi rừng thẳm. Nay có ngày anh lên tận nơi đây thắp hương, chắc bố, mẹ thanh thản rồi”. Tôi đưa tay vuốt nhẹ viên đá xanh lạnh buốt: “Nếu có kiếp sau, con mong bố được thanh thản, không còn giằng xé vì bổn phận với ai…”.

Hoàng hôn dần buông trên đỉnh Khau Mun. Ánh sáng cuối ngày hòa cùng khói nhang bảng lảng, như có hình dáng người cha ngồi đó, khẽ mỉm cười nhìn chúng tôi. Trong khoảnh khắc, lòng tôi nhẹ như mây trôi. Mọi oán trách, tất cả, tan biến như chưa từng tồn tại.

---------

Vùng Bắc Bộ - Gian dĩ (*): gian buồng phụ trong ngôi nhà năm gian, thường nằm kế gian chính, dân gian quen gọi là “dĩ”.

Truyện ngắn của Hà Minh Hưng

Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/truyen/di-anh-i779684/
Zalo