Để quế Trà My vươn ra thế giới
Quế Trà My sở hữu chất lượng vượt trội và Chỉ dẫn địa lý từ năm 2011, nhưng sản lượng xuất khẩu hiện chỉ đạt 150-250 tấn vỏ khô mỗi năm, một con số khiêm tốn so với tiềm năng.

Cây Quế di sản tại xã Trà Vân, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Thanh Triều
Trước yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu lớn, chuyển đổi số đang được xem là giải pháp then chốt để đưa Quế Trà My vươn ra thế giới.
Trăn trở từ những con số
Quế Trà My là báu vật của vùng tây xứ Quảng, nơi thiên nhiên và bàn tay con người cùng trồng nên một loại dược liệu quý hiếm bậc nhất Việt Nam. Giá trị ấy nằm ở chất lượng vượt trội của sản phẩm: hàm lượng tinh dầu đạt 4-6%, thành phần cinnamaldehyde chiếm tới 85-90% (tạo vị cay nồng đặc trưng), dược tính vượt trội so với đa số giống quế khác trên thị trường. Năm 2011, “Trà My” đã được cấp chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm quế vỏ - bảo chứng danh giá hiếm vùng trồng nào cũng có được, khẳng định vị thế của một trong những vùng nguyên liệu quế tốt nhất cả nước.
Nhưng giữa tiềm năng và thị trường vẫn còn một khoảng cách lớn. Ông Trần Viết Hùng, Tổng Giám đốc Công ty CP Quế Trà My thông tin: Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 120.295 tấn quế, thu về hơn 300,2 triệu USD, tiếp tục giữ vị trí hàng đầu thế giới. Nhưng trong số đó, phần của Quế Trà My lại quá khiêm tốn, sản lượng thu hoạch chỉ 150-250 tấn vỏ khô mỗi năm trên 3.760ha diện tích toàn vùng.
Theo ông Trần Viết Hùng, có bốn điểm nghẽn đang kìm hãm cây quế bản địa phát triển: nguyên liệu phân tán do chu kỳ khai thác kéo dài; hạ tầng, logistics yếu do địa hình chia cắt; phương thức khai thác còn lạc hậu; áp lực keo lai độc canh thay thế dần rừng quế tự nhiên.
Nhìn sâu vào đó, có thể thấy mẫu số chung: sự thiếu kết nối. Nông hộ khó kết nối với vùng nguyên liệu tập trung, sản phẩm chưa kết nối được với hồ sơ truy xuất mà thị trường quốc tế đòi hỏi, dữ liệu canh tác khó kết nối với ngân hàng hay bảo hiểm để mở khóa vốn.
“Chất lượng vượt trội chỉ là điều kiện cần. Để bước vào các thị trường lớn, điều kiện đủ nằm ở tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực quản trị bằng công nghệ số. Với ngành quế nói riêng và nông nghiệp nói chung, chuyển đổi số không còn là xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để tồn tại và cạnh tranh”, ông Trần Viết Hùng nói.

Gian hàng trưng bày sản phẩm OCOP Quế Trà My và dược liệu. Ảnh: N.T
Mở cánh cửa hội nhập với chuyển đổi số
Từ thực trạng đó, ông Trần Viết Hùng đề xuất hệ giải pháp 5 trụ cột để đưa quế Trà My trở thành “cây làm giàu bền vững”: chiến lược lấy ngắn nuôi dài; cơ giới hóa khâu khai thác và sơ chế; kêu gọi đầu tư nhà máy chế biến sâu theo mô hình không rác thải; kết hợp bảo tồn văn hóa với du lịch sinh thái; và trụ cột thứ năm - số hóa - được xem là mắt xích xuyên suốt, kết nối bốn trụ cột còn lại thành hệ sinh thái vận hành đồng bộ.
Áp lực chuyển đổi này còn xuất phát từ một “luật chơi” mới của thị trường. Liên minh châu Âu đã ban hành Quy định chống phá rừng (EUDR), yêu cầu mọi lô hàng nông sản, trong đó có quế, phải chứng minh nguồn gốc không gây mất rừng bằng dữ liệu định vị cụ thể. Sau hai lần lùi thời hạn, EU chốt mốc áp dụng chính thức cho doanh nghiệp lớn và vừa từ ngày 30/12/2026. Đây là rào cản lớn với những vùng trồng nhỏ lẻ, phân tán như quế Trà My, nhưng cũng mở ra cơ hội cho việc chuẩn hóa dữ liệu sớm.
Cùng chung nhận định, ông Vương Hữu Vĩnh, Phó Tổng Giám đốc CinnamonGo Việt Nam cho rằng, giá trị của cây quế hôm nay không chỉ đo bằng sản lượng, chất lượng như trước, mà còn đo bằng dữ liệu, công nghệ và niềm tin của thị trường - con đường để một sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Chuyển đổi số có thể bắt đầu từ việc xây dựng phần mềm chuyên biệt cho ngành quế, ứng dụng mã QR và blockchain để minh bạch hóa nhật ký canh tác: hộ trồng, ngày trồng, mã lô hạt giống, quy trình chăm sóc, cho tới các chứng chỉ tương thích EUDR, FSC-CoC. Dữ liệu sinh khối chuẩn hóa còn giúp nông dân tiếp cận thị trường tín chỉ carbon, mua chung vật tư với giá tốt.
Nền tảng có thể tích hợp trí tuệ nhân tạo để phân tích dữ liệu vệ tinh, cảnh báo sớm nguy cơ cháy rừng và mất rừng ngay trên điện thoại của nông hộ, dự báo năng suất theo từng vùng canh tác. Đồng thời tích hợp sàn vật tư nông nghiệp minh bạch giá, kênh thương mại điện tử kết nối trực tiếp người mua - người trồng, cùng mô hình du lịch sinh thái kết hợp trải nghiệm thực tế ảo, mở thêm nguồn thu nhập mới.
Xa hơn, mỗi cây quế có thể trở thành “tài sản số” mang câu chuyện riêng, cho phép khách hàng ở bất kỳ đâu “nhận nuôi” hoặc mua sản phẩm trực tiếp từ rẫy của đồng bào, kết nối trực tiếp giữa người trồng và người tiêu dùng toàn cầu, điều gần như bất khả thi với một vùng trồng miền núi biệt lập trước đây.
Tuy nhiên, chuyển đổi số ngành quế không phải việc của riêng một đơn vị, mà cần hệ sinh thái vận hành đồng bộ, nơi các bên cùng chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm. Chính quyền địa phương đồng hành xây dựng cơ chế, doanh nghiệp chế biến cam kết đầu ra, hợp tác xã tổ chức vùng nguyên liệu, còn nông hộ là người trực tiếp cập nhật dữ liệu. Thiếu một trong các mắt xích đó, dữ liệu dù chuẩn đến đâu cũng khó vượt qua giai đoạn thí điểm.
“Nếu thực hiện quyết liệt các giải pháp, lấy chuyển đổi số làm động lực, thì đến năm 2035, đồng bào vùng tây xứ Quảng hoàn toàn đáp ứng con số 30 triệu USD, tương đương khoảng 10.000 tấn vỏ quế xuất khẩu hằng năm, cùng khoảng 10 triệu USD từ phụ phẩm quế thông qua các lò chưng cất tinh dầu và nhà máy sản xuất đũa quế” - ông Trần Viết Hùng nói.

































