Để nông sản vào thị trường lớn
Từ các vùng sản xuất hàng hóa, nông nghiệp Lào Cai đang từng bước chuyển từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, từ bán nguyên liệu sang gia tăng giá trị. Để nông sản vươn xa hơn, yêu cầu đặt ra là tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh chế biến và xây dựng liên kết bền vững giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Từ nguồn cá nước lạnh vốn chủ yếu tiêu thụ tươi tại các nhà hàng, Hộ kinh doanh Lê Trung Thức (Trại cá hồi Thức Mai), xã Ngũ Chỉ Sơn lựa chọn hướng đi khác: chế biến sâu để tạo thêm giá trị và mở rộng thị trường. Sau quá trình nghiên cứu, cơ sở đã đưa ra 2 sản phẩm chế biến là cá tầm Sa Pa hun khói và cá hồi Sa Pa rắc vị.
Từ nguyên liệu tươi, cá nước lạnh được chế biến thành những sản phẩm thuận tiện hơn trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng, qua đó, mở thêm hướng tiêu thụ cho nguồn nguyên liệu địa phương.
Bà Phạm Thị Mai - đại diện Hộ kinh doanh Lê Trung Thức cho biết: “Chúng tôi thực hiện chế biến chuyên sâu để tạo ra sản phẩm có giá trị cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng”.

Phía sau câu chuyện của một cơ sở là sự thay đổi căn bản trong tư duy sản xuất nông nghiệp. Người sản xuất không còn thụ động tìm nơi bán cái mình có, mà chủ động lấy nhu cầu thị trường làm thước đo để tổ chức lại quy trình và sản phẩm.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, 6 tháng đầu năm 2026, tốc độ tăng tổng sản phẩm nông - lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh đạt 5,19%, chiếm 16,41% cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng và nâng cao thu nhập, dư địa của nông nghiệp không chỉ ở mở rộng quy mô, tăng sản lượng mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo thêm giá trị từ mỗi sản phẩm.
Nền tảng cho quá trình chuyển đổi ấy là các vùng sản xuất hàng hóa ngày càng được hình thành rõ nét. Toàn tỉnh hiện có 15.278 ha chè, 6.470 ha dược liệu, 3.472 ha chuối và 2.584 ha dứa; trong đó, 1.219,05 ha chè tại xã Bản Liền được sản xuất theo hướng hữu cơ. Chuối, dứa cũng từng bước gắn sản xuất với tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu.

Thực tế, phần lớn nông sản hàng hóa trên địa bàn vẫn tiêu thụ dưới dạng thô, tươi sống và qua nhiều khâu trung gian. Một số mặt hàng như chè, dứa, dược liệu, chuối đã được sơ chế, chế biến, đóng gói để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Các sản phẩm gạo Séng cù, chè Shan hữu cơ, gạo nếp Tú Lệ, mật ong, thịt trâu sấy, sản phẩm từ atiso, cá hồi hun khói... từng bước có mặt tại cửa hàng bán lẻ, đại lý, siêu thị trong và ngoài tỉnh.

Nhưng bước vào hệ thống phân phối hiện đại không đơn giản là đưa được sản phẩm lên quầy hàng. Các yêu cầu về quy mô cung ứng, chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ, bao bì, tem nhãn ngày càng cao. Lợi thế đặc sản chỉ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh khi sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc và khả năng cung ứng ổn định.
Quá trình chuẩn hóa đang được hỗ trợ bằng các công cụ số. Đến nay, 113 đơn vị với 373 dòng sản phẩm tham gia Hệ thống minh bạch thông tin truy xuất nguồn gốc điện tử; 270 đơn vị với 548 dòng sản phẩm được cập nhật chào bán trên Hệ thống hỗ trợ xúc tiến thương mại; 162 chuỗi nông sản an toàn được đưa lên hệ thống quản lý.

Cây chè cho thấy rõ khoảng cách giữa quy mô sản xuất và giá trị tạo ra. Toàn tỉnh hiện có 38 mã số vùng trồng chè với 288,35 ha, sản lượng khoảng 3.000 tấn chủ yếu phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, chè xuất khẩu vẫn chủ yếu là nguyên liệu thô, giá bình quân khoảng 2,5 USD/kg và chưa thâm nhập mạnh vào những thị trường có giá trị cao như EU, Mỹ, Nhật Bản.
Đưa được nông sản ra thị trường xuất khẩu chưa phải là đích cuối cùng. Điều quan trọng hơn là sản phẩm được bán ở phân khúc nào, dưới hình thức nào và bao nhiêu giá trị được giữ lại cho người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp. Muốn thay đổi điều đó, tư duy thị trường phải bắt đầu ngay từ vùng nguyên liệu. Người dân không chỉ quan tâm đến năng suất mà phải biết thị trường cần chất lượng thế nào, sản lượng bao nhiêu và thời điểm giao hàng ra sao. Đó là bước chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”.

Dư địa gia tăng giá trị còn thể hiện ở lĩnh vực dược liệu. Toàn tỉnh hiện có 37 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia thu mua, sơ chế, chế biến; từ nguồn nguyên liệu địa phương đã hình thành nhiều sản phẩm như cao atiso, cao đương quy, trà túi lọc, thuốc tắm, xà phòng thảo dược, tinh dầu... Tuy nhiên, dược liệu vẫn chủ yếu được sơ chế rồi bán cho các công ty dược hoặc thị trường tự do. Điều đó cho thấy khoảng cách từ lợi thế nguyên liệu đến sản phẩm có giá trị cao còn phụ thuộc vào công nghệ, tiêu chuẩn, năng lực chế biến và liên kết thị trường.
Dù đã hình thành những vùng sản xuất hàng hóa ngày càng rõ nét, sản xuất ở một số địa bàn vẫn còn phân tán; mức độ liên kết giữa vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ chưa đồng đều; sản phẩm qua chế biến chưa tương xứng với tiềm năng. Việc ghi nhật ký canh tác, truy xuất nguồn gốc tại vùng sản xuất còn hạn chế; năng lực của một số hợp tác xã, cơ sở sản xuất và mức độ giao dịch qua sàn thương mại điện tử, chuyển đổi số cũng chưa đồng đều. Đây chính là khoảng cách cần thu hẹp để lợi thế về sản phẩm, vùng nguyên liệu thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh.
Cùng với kết nối doanh nghiệp thu mua, hệ thống bán lẻ, siêu thị và các sàn thương mại điện tử, tỉnh đang triển khai kế hoạch phát triển logistics nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới hoàn thiện chuỗi cung ứng, nâng sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế. Việc rà soát mạng lưới chế biến gắn với vùng nguyên liệu, hướng dẫn sơ chế, bảo quản sau thu hoạch cũng được triển khai nhằm giảm tổn thất và hoàn thiện các mắt xích trong chuỗi.
Thị trường vì thế không còn là câu chuyện riêng của khâu tiêu thụ. Đó phải là yêu cầu xuyên suốt từ lựa chọn giống, tổ chức vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến bảo quản, vận chuyển và phân phối. Trong chuỗi giá trị ấy, người nông dân thay đổi cách làm; hợp tác xã đổi mới tổ chức sản xuất; doanh nghiệp gắn vùng nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ; Nhà nước tạo cơ chế, hạ tầng và kết nối.
Khi “sản xuất cái mình có” từng bước chuyển sang “sản xuất cái thị trường cần”, thước đo của nông nghiệp không chỉ là bao nhiêu tấn nông sản được làm ra, mà còn là giá trị tạo thêm từ mỗi sản phẩm, thu nhập của người dân và sức cạnh tranh của thương hiệu. Đó cũng là hướng đi để những lợi thế về đất đai, khí hậu và bản sắc vùng miền được chuyển hóa thành giá trị kinh tế bền vững, nâng cao vị thế nông sản Lào Cai trên thị trường.

