Để công nghệ chiến lược vượt qua 'thung lũng chết'
Muốn làm chủ công nghệ chiến lược không thể chỉ có nhà khoa học giỏi, thiết bị hiện đại hay những công bố quốc tế mà phải có một hệ thống hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm đủ năng lực để đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm qua nguyên mẫu, sản xuất thử, đo kiểm, chứng nhận và đến thị trường.
Với Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 4-8-2026, Việt Nam bắt đầu tổ chức lại nguồn lực đã tích lũy hơn hai thập kỷ, hướng tới hình thành hạ tầng chiến lược dùng chung cho phát triển công nghệ chiến lược.

Phòng thí nghiệm của Viện Thực phẩm chức năng (VIDS) tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội đạt quy chuẩn thế giới. Ảnh: PV
Muốn tự chủ công nghệ phải có hạ tầng tương xứng
Tự chủ công nghệ chiến lược đang trở thành yêu cầu ngày càng rõ trong quá trình phát triển các ngành công nghệ mới. Nhưng tự chủ không thể chỉ bắt đầu từ việc nghiên cứu một công nghệ hay tạo ra một sản phẩm.
Theo ông Đinh Gia Nghiêm, Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, muốn tự chủ về công nghệ chiến lược bắt buộc phải có hạ tầng chiến lược tương xứng. Từ nghiên cứu và phát triển công nghệ lõi đến sản phẩm công nghệ chiến lược là một hành trình gồm nhiều nấc: Nghiên cứu, thử nghiệm và đo kiểm, chế tạo nguyên mẫu, sản xuất thử rồi mới đến thị trường. Khoảng trống ở các khâu giữa này chính là nơi một công nghệ có thể bị “mắc kẹt”.
Đây cũng là lý do Đề án phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược được xây dựng. Theo ông Đinh Gia Nghiêm, từ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược để hình thành sản phẩm ra thị trường phải qua thử nghiệm, đo kiểm, nguyên mẫu, sản xuất thử, chứng nhận... Đây là khoảng trống mà Nhà nước sẽ tập trung đầu tư, hỗ trợ.

Nếu nhìn từ điểm cuối là thị trường, vấn đề càng rõ hơn. Một quốc gia có thể tạo ra nhiều tri thức nhưng chưa chắc đã tạo ra được năng lực công nghệ tương ứng nếu thiếu hạ tầng để thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã khảo sát tại 113 cơ sở trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm, với sự tham gia của 13 bộ, ngành, địa phương. Kết quả cho thấy 77% số cơ sở được khảo sát có liên quan đến ít nhất một nhóm công nghệ chiến lược; có 1.180 nhân lực chuyên trách và 807 tiến sĩ, chuyên gia. Các cơ sở này tạo ra 5.508 công bố, 390 giải pháp hữu ích và 622 hợp đồng chuyển giao.

Những con số ấy cho thấy Việt Nam đã có một nền tảng đáng kể. Song, theo ông Đinh Gia Nghiêm, điều cần quan tâm là sự chênh lệch giữa lượng tri thức tạo ra với các kết quả đầu ra về sở hữu trí tuệ, chuyển giao và sản phẩm. Đáng chú ý, có 35 phòng thí nghiệm có công bố quốc tế nhưng chưa thể triển khai được kết quả nghiên cứu. Một trong những nguyên nhân nằm ở thiếu hạ tầng phục vụ đo, kiểm, thử nghiệm, xây dựng nguyên mẫu...
Nói cách khác, “thung lũng chết” của công nghệ không nằm ở việc Việt Nam không có ý tưởng hay không có nghiên cứu, mà nằm ở khoảng trống từ kết quả nghiên cứu đến một công nghệ đủ hoàn thiện để bước ra thị trường.

Ông Đinh Gia Nghiêm, Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: PV
Không xây lại từ đầu, mà tổ chức lại nguồn lực đã có
Thực tế cho thấy, hệ thống 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư từ năm 2000 đã tích lũy khoảng 966.745 tỷ đồng; tạo ra khoảng 3.000 công bố, 183 bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, cùng nguồn nhân lực gồm 358 tiến sĩ và 591 thạc sĩ.
Vì thế, bài toán của năm 2026 không phải khởi tạo lại từ đầu, mà là tổ chức lại một nền tài sản vật lý và trí tuệ đã tích lũy hơn hai thập kỷ thành năng lực quốc gia thực thụ. Đây là sự thay đổi quan trọng về tư duy đầu tư.
Thực tế của hệ thống cũ cho thấy một vòng lặp không dễ phá vỡ: Quá trình đầu tư kéo dài khiến thiết bị có nguy cơ lạc hậu trước khi đưa vào vận hành; thiết bị cần chi phí vận hành nhưng nguồn kinh phí chưa ổn định; thiếu nguồn lực ảnh hưởng tới khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao, khó mở rộng hợp tác và tạo nguồn thu dịch vụ để tái đầu tư. Thời gian đầu tư trung bình cho một phòng thí nghiệm là 5 năm 6 tháng.

Một trong những thay đổi căn bản của Đề án là chuyển từ “sở hữu khép kín” sang “dịch vụ dùng chung”. Theo ông Đinh Gia Nghiêm, hạ tầng trọng điểm quốc gia được hình dung như một nền tảng dịch vụ phục vụ toàn quốc (Platform as a Service).
Hạ tầng ấy phải mở để viện, trường, doanh nghiệp, chuyên gia, doanh nghiệp khởi nghiệp và các nhóm nghiên cứu có thể tiếp cận, khai thác năng lực thiết bị và dịch vụ theo nhu cầu. Đây là điều kiện để hình thành mối liên kết Nhà nước - viện, trường - doanh nghiệp. Nhà khoa học có thể sử dụng hạ tầng để thử nghiệm công nghệ; doanh nghiệp tiếp cận công nghệ lõi, công nghệ chiến lược mà không phải tự đầu tư toàn bộ thiết bị với chi phí lớn và thời gian thu hồi vốn dài. Đầu ra của hệ thống phải gắn với doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) và spin-off.

Điều đó cũng có nghĩa: Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia không phải tài sản độc quyền của cơ quan chủ trì. Giá trị của hạ tầng chỉ thực sự được phát huy khi nó trở thành năng lực có thể tiếp cận và sử dụng chung trên quy mô quốc gia.
Cùng với đó, Đề án đưa ra cách tiếp cận đầu tư theo vòng đời, nghĩa là tính toán ngay từ đầu không chỉ tiền mua thiết bị mà cả chi phí vận hành, bảo trì, nâng cấp và tái đầu tư. Nhà nước vẫn phải bảo đảm phần nền tảng, trong khi nguồn thu từ dịch vụ khoa học và công nghệ, đo kiểm... được sử dụng để tái đầu tư, nâng cấp hạ tầng.
Đây cũng là cách để phân bổ nguồn lực theo đúng mức độ sẵn sàng của từng lĩnh vực. Những nhóm công nghệ chiến lược đã có nền tảng như sinh học, y sinh tiên tiến, robot và tự động hóa, vật liệu tiên tiến sẽ cần nâng cấp, hiện đại hóa; trong khi những lĩnh vực hạ tầng còn ở giai đoạn xuất phát như đường sắt tốc độ cao, biển và đại dương cần được tập trung đầu tư.
Quan trọng hơn, hạ tầng lần này không chỉ dừng ở phòng nghiên cứu. Các Testbed - trung tâm thử nghiệm được đặt vào đúng khoảng trống của chuỗi giá trị, đảm nhiệm những khâu như thử nghiệm, đo kiểm, chứng nhận, hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm. Đây là chiếc cầu nối để công nghệ vượt qua “thung lũng chết”, thay vì dừng lại ở bài báo khoa học hoặc nguyên mẫu chưa đủ điều kiện bước ra thị trường.

Cách tiếp cận ấy kéo theo một thay đổi nữa: Đầu ra phải đo được.
Các trung tâm, phòng thí nghiệm không chỉ được đánh giá bằng số công bố mà bằng số công nghệ chiến lược làm chủ, bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, doanh nghiệp hình thành và hoạt động chuyển giao. Đề án định hướng tài sản sở hữu trí tuệ có mức tăng trưởng trung bình tối thiểu 18%/năm, hướng tới hình thành 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ sản phẩm của các trung tâm, phòng thí nghiệm.
Theo lộ trình, tháng 10-2026 sẽ công bố quy trình tuyển chọn; giai đoạn 2026-2027 lựa chọn một số trung tâm, phòng thí nghiệm để triển khai. Đến năm 2030, mục tiêu là đầu tư tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm hướng tới 10 danh mục công nghệ chiến lược và 4 trung tâm thử nghiệm, với tổng kinh phí khoảng 10.000 tỷ đồng.
Đáng chú ý, trách nhiệm không kết thúc ở thời điểm được đầu tư. Các trung tâm, phòng thí nghiệm phải cam kết KPI đầu ra. Sau 3 năm, nếu không đạt 70% KPI phải có phương án xử lý; sau 5 năm tiếp tục không đạt thì phải xem xét giao lại cho cơ quan có năng lực điều hành tốt hơn.

Như vậy, Quyết định số 1483/QĐ-TTg không chỉ mở ra một chương trình đầu tư hạ tầng mới. Quan trọng hơn, đây là bước chuyển trong cách nhìn về hạ tầng khoa học và công nghệ: Từ những tài sản riêng lẻ sang một hệ thống năng lực quốc gia; từ sở hữu sang dùng chung; từ đầu tư theo dự án sang đầu tư theo vòng đời; từ đếm công bố sang đo giá trị tạo ra. Mục tiêu cuối cùng là hình thành một hệ sinh thái năng lực nghiên cứu và thử nghiệm có thể tiếp cận, dùng chung và liên tục tạo ra giá trị thực.

