Để chè Liên Sơn 'cất cánh', cần một chuỗi liên kết bền vững
Sở hữu gần 500 hachè chất lượng cao, cho sản lượng gần 6.000 tấn chè búp tươi mỗi năm, nhưng hàng trăm hộ dân tại vùng chè Liên Sơn vẫn chật vật vì giá thu mua thấp và bấp bênh. Thiếu cơ sở chế biến, bao tiêu sản phẩm tại chỗ khiến đầu ra chè tươi phụ thuộc phần lớn vào thương lái nhỏ lẻ. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về thu hút doanh nghiệp đầu tư, hình thành chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ để người dân yên tâm gắn bó với cây chè.

Vùng nguyên liệu chè rộng lớn tại thôn Bản Xá vẫn sinh trưởng xanh tốt, cho năng suất cao nhưng đầu ra lại bấp bênh.
Khó khăn của người trồng chè Liên Sơn bắt đầu từ khi Nhà máy chè Liên Sơn trên địa bàn ngừng hoạt động vào cuối năm 2018.
Khác với nhiều loại nông sản có thể bảo quản dài ngày, búp chè tươi đòi hỏi phải được thu hái, chế biến trong thời gian ngắn. Khi chè đến lứa, người dân phải huy động nhân lực thu hái đồng loạt để bảo đảm chất lượng búp. Sau khi rời cành, chè cần được đưa vào sao, sấy kịp thời để giữ hương vị và màu sắc. Việc không có nhà máy chế biến tại chỗ đã làm thiếu đi một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị, đẩy người trồng chè vào thế bị động.

Nhà máy chế biến chè Liên Sơn đóng cửa, bỏ hoang.
Hiện nay, việc tiêu thụ chè của người dân chủ yếu phụ thuộc vào những chuyến xe thu mua lưu động của thương lái nhỏ lẻ. Người trồng chè hầu như không có quyền quyết định giá sản phẩm do mình làm ra. Mỗi lứa thu hoạch đều tiềm ẩn sự bấp bênh bởi giá chè lên hay xuống phụ thuộc vào người thu mua trung gian.
Giữa đồi chè đang vào vụ thu hoạch, bà Nguyễn Thị Thực, người dân thôn Liên Sơn, thoăn thoắt hái những búp non. Gia đình bà có 7.000 m2 trồng giống chè lai 2. Nhờ được chăm sóc cẩn thận, cây chè sinh trưởng tốt.


Người dân khẩn trương thu hái chè khi đến lứa, nhưng niềm vui vụ mùa không trọn vẹn do giá thu mua duy trì ở mức thấp.
Nói về đầu ra sản phẩm, bà Thực cho biết: “Hiện nay, gia đình tôi và bà con trong thôn đều phải bán chè cho các xe thu mua lưu động. Từ khi nhà máy cũ ngừng hoạt động, chúng tôi không còn nơi bao tiêu ổn định. Thương lái đến tận nương, họ đưa ra giá bao nhiêu thì mình biết bấy nhiêu, bà con cũng không rõ chè sẽ được chở đi đâu để chế biến. Chè của gia đình có chất lượng tốt, búp đẹp nhưng hiện chỉ bán được 3.800 đồng/kg, không đáng là bao so với công sức chăm sóc”.
Đây không chỉ là khó khăn của gia đình bà Thực mà còn là tình cảnh chung của nhiều hộ trồng chè trong vùng. Theo người dân, một trong những nguyên nhân khiến giá chè Liên Sơn thấp và bấp bênh là chi phí trung gian lớn.
Khi thu mua, thương lái thường trừ cước vận chuyển và công bốc xếp để đưa chè tươi từ Liên Sơn đến các nhà máy chế biến tại Lương Thịnh hoặc Hưng Khánh. Vì vậy, giá chè thu mua tại vườn thấp hơn so với những vùng nguyên liệu lân cận có nhà máy chế biến.

Thiếu cơ sở chế biến, người dân phải bán chè tươi cho thương lái ngay tại chân đồi với giá bấp bênh.
Ông Đào Duy Tuyến, người dân thôn Bản Xá, chia sẻ: “Khó khăn lớn nhất của bà con hiện nay là không có nhà máy thu mua tại chỗ. Thương lái ép giá, đưa ra mức giá thấp với lý do phải trừ cước vận chuyển và công bốc xếp. Tính ra, giá chè của chúng tôi bị hụt cả chục giá so với những nơi có nhà máy. Cây chè mang tính thời vụ, đến lứa là cả làng phải thu hái đồng loạt, không thể chần chừ. Sản lượng chè của Liên Sơn rất dồi dào nên chúng tôi mong sớm có thêm một vài nhà máy chế biến tại địa phương để đáp ứng nhu cầu bao tiêu, giúp bà con bớt thiệt thòi”.
Với mức giá thu mua khoảng 3.800 đồng/kg, thu nhập từ cây chè không đủ để người dân trang trải chi phí sinh hoạt, chưa nói đến việc tái đầu tư phân bón hoặc thuê nhân công. Trước áp lực kinh tế, nhiều gia đình phải tìm thêm hướng phát triển sinh kế. Người dân và chính quyền địa phương đã mạnh dạn trồng xen hơn 33 ha mắc-ca dưới tán chè.
Việc trồng xen mắc-ca giúp người dân có thêm nguồn thu, cải thiện đời sống. Tuy nhiên, đối với những người đã gắn bó hàng chục năm với cây chè, đây vẫn chỉ là giải pháp lấy ngắn nuôi dài. Chè vẫn là cây trồng chủ lực, gắn bó mật thiết với đời sống và sản xuất của người dân địa phương. Mong muốn lớn nhất của họ là cây chè tìm lại được vị thế và mang lại nguồn thu nhập ổn định.

Trồng xen mắc-ca dưới tán chè được xem là giải pháp tạo thêm thu nhập cho người dân.
Ông Nguyễn Văn Tình - Bí thư Chi bộ thôn Liên Sơn cho biết: “Đời sống kinh tế của hầu hết người dân trong thôn phụ thuộc vào đồi chè. Tuy nhiên, trên địa bàn chỉ có một xưởng thu mua nhỏ, không đáp ứng đủ nhu cầu nên bà con phải bán chè ra ngoài với giá thấp, chỉ khoảng 3.800 đồng/kg. Thu nhập bấp bênh khiến kinh tế gia đình chưa thể phát triển".
Mong muốn của người dân cũng phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững của chính quyền địa phương. Để tháo gỡ khó khăn cho vùng chè, thời gian qua, xã Liên Sơn đã phối hợp các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân thay đổi tư duy sản xuất.
Trong năm nay, mô hình trồng chè theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích khoảng 05 ha đã được triển khai tại thôn Bản Xá. Mô hình nhằm từng bước hình thành thói quen canh tác sạch, an toàn và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, những nỗ lực cải tiến kỹ thuật sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu bài toán chế biến và tiêu thụ chưa được giải quyết.


Người dân làm cỏ, chăm sóc mô hình sản xuất chè VietGAP với kỳ vọng mở ra hướng đi bền vững hơn cho cây chè quê hương.
Bà Trương Thị Hương Giang - Trưởng phòng Kinh tế xã Liên Sơn, cho biết: “Cây chè là niềm tự hào và là cây trồng chủ lực của xã, với diện tích gần 500 ha. Thời gian qua, bà con đã thực hiện tốt khâu chăm sóc, đưa giống LDP2 vào canh tác, cho năng suất cao. Khó khăn lớn nhất hiện nay là chưa có cơ sở chế biến tập trung".
Những nương chè xanh trải dài trên các sườn đồi là minh chứng cho tiềm năng của vùng chè Liên Sơn và công sức bền bỉ của người dân. Tuy nhiên, để chè thực sự trở thành cây trồng mang lại nguồn thu ổn định, rất cần sự đồng hành của các cơ quan chức năng trong định hướng quy hoạch, hoàn thiện cơ chế thu hút đầu tư.
Một nhà máy chế biến được xây dựng tại vùng nguyên liệu, cùng chuỗi liên kết tiêu thụ minh bạch, bền vững sẽ là lời giải cho bài toán đầu ra, giúp người dân yên tâm gắn bó với cây chè.




























