Để AI mang lại gương mặt rạng rỡ của người bệnh
Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) 2025 chuẩn bị có hiệu lực đầu tháng 3-2026 được xem là nền tảng để đưa AI ứng dụng tại các trạm y tế cơ sở khắp Việt Nam. Thế nhưng, ứng dụng AI trong y tế tại Việt Nam được thử nghiệm sớm hơn tưởng tượng của mọi người rất nhiều, bắt đầu từ ca phẫu thuật của robot tại Bệnh viện Bình Dân năm 2016.
Giai đoạn 2016-2026 được xem là bước tiến dài của ứng dụng AI trong y tế tại Việt Nam, theo tinh thần quản lý kiến tạo. Nhưng một gương mặt rạng rỡ được chữa lành, sống thọ hơn của người bệnh mới là đích đến của nền y tế giai đoạn mới.
Đầu tư cho “trạm kiểm định con người”
Hai lần mắc ung thư thận khi còn trẻ và điều trị thành công tại Nhật Bản đã khiến ông Nguyễn Huy Tuấn thay đổi suy nghĩ. Người Nhật Bản có tỷ lệ mắc ung thư cao hàng đầu thế giới nhưng tỷ lệ tử vong lại rất thấp, chỉ khoảng 25% ở nam giới và thấp hơn ở phụ nữ sau năm năm khi phát hiện và điều trị kịp thời.
Chênh lệch “cán cân sinh tử” này đến từ hệ thống tầm soát tiên tiến với gần 1.700 cơ sở Ningendock - “trạm kiểm định con người”. Đây là mô hình khám tổng quát chuyên sâu có lịch sử 70 năm tại Nhật Bản, nhằm phát hiện sớm bệnh lý trước khi triệu chứng xuất hiện.

TS.BS. Lâm Việt Trung, Phó giám đốc phụ trách chuyên môn, trưởng khoa Ngoại tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy, đang sử dụng robot hỗ trợ phẫu thuật. Ảnh: Bệnh viện Chợ Rẫy
Cơ duyên sống sót và sống khỏe đã đưa ông Tuấn đến với mô hình NURA của Fujifilm - hãng sản xuất phim thuần túy đã chuyển sang thiết bị y tế kỹ thuật số từ năm 1983. Hệ thống phòng khám đa khoa NURA tại Việt Nam là kết quả hợp tác giữa Fujifilm và Công ty cổ phần Công nghệ y tế Việt Nhật (VJH) – đơn vị vận hành hệ thống phòng khám đa khoa hiện đại T-Matsuoka tại Việt Nam. Ông Nguyễn Huy Tuấn hiện là Chủ tịch của NURA Việt Nam, với hai cơ sở tại Hà Nội và TPHCM. Ông nói công nghệ mới giúp giảm liều bức xạ CT xuống mức thấp như X-quang thông thường, đồng thời AI dựa trên cơ sở dữ liệu lớn (big data) “chỉ điểm” các tổn thương siêu nhỏ chỉ vài mi li mét mà mắt thường dễ bỏ sót.
Trong tiếng Ảrập hay Hebrew (Do Thái), NURA có nghĩa là “ánh sáng” hay “hy vọng”, Chủ tịch NURA Việt Nam giải thích, bởi phát hiện sớm giúp cơ hội sống khỏe mạnh cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh điều quan trọng là “cần thay đổi nhận thức người Việt, từ sợ phát hiện bệnh sang tư duy chủ động phòng ngừa”.
Mỗi trung tâm NURA cần đầu tư 100-120 tỉ đồng cho thiết bị và nhân sự. Với quy mô này, các cơ sở thường chịu lỗ kỹ thuật trong đôi ba năm đầu và mất ít nhất mười năm để bài toán lợi nhuận đạt kết quả ổn định. Đây là khoản đầu tư dài hạn, không mang lại lợi nhuận sớm như các mô hình kinh doanh khác.
Tại Việt Nam, tỷ lệ bác sĩ trên đầu người thấp - khoảng 8 bác sĩ/10.000 dân, và các bệnh viện luôn quá tải. Các bác sĩ thường tập trung vào chữa bệnh hơn là kiểm tra định kỳ cho người khỏe mạnh. Trong khi một bác sĩ cần 20 phút để đọc phim CT toàn thân, thì AI của Fujifilm chỉ mất 2-3 phút để phát hiện hàng chục bất thường. Điều này không chỉ giảm thời gian chờ đợi mà còn hỗ trợ hội chẩn, giúp đồng nhất chất lượng chẩn đoán bất kể khoảng cách địa lý
Từ thử nghiệm AI đầu tiên
ChatGPT của OpenAI ra mắt công chúng toàn cầu cuối năm 2022. Thế nhưng, AI được sử dụng tương đối sớm hơn nhiều trong ngành y tế Việt Nam, cách đây đúng mười năm.
Tháng 10-2016, Bệnh viện Bình Dân ở TPHCM là cơ sở y tế đầu tiên tại Việt Nam sử dụng robot da Vinci trong phẫu thuật ngoại tổng quát và tiết niệu người lớn. Robot là hệ thống phẫu thuật nội soi điều khiển từ xa có tích hợp các thuật toán thông minh, chứ không phải AI tự vận hành hoàn toàn. Robot da Vinci thường được gắn liền với AI nhờ vào các tính năng hỗ trợ xử lý dữ liệu thời gian thực, theo Tạp chí Y học TPHCM.

NURA là đơn vị y tế tư nhân ứng dụng công nghệ chẩn đoán hình ảnh cũa Fujifilm tại Việt Nam. Ảnh: NURA
Sau Bình Dân, AI được sử dụng ở nhiều hơn ở các bệnh viện công tuyến đầu và cả các cơ sở y tế tư nhân lớn nhỏ trong chẩn đoán hình ảnh, quản lý hồ sơ, quản lý dịch bệnh, y học chính xác.
Các công cụ AI giúp các bệnh viện tối ưu hóa quy trình vận hành và giảm tải thủ tục hành chính. Nhiều bệnh viện ứng dụng AI đơn giản hơn như dùng chatbot tư vấn, nhập liệu bằng giọng nói (NLP) hoặc dùng thị giác máy tính để theo dõi camera an ninh, đảm bảo an toàn người bệnh...
Triển khai AI y tế đến tận phường xã
Hôm 14-1-2026, Bộ Y tế đã ra mắt Mạng lưới AI y tế có trách nhiệm (V-RHAIN), với mục tiêu đưa các giải pháp AI về hơn 3.300 trạm y tế xã, phường trên toàn quốc từ năm 2026. Hàng loạt giải pháp AI sẽ được ứng dụng để tầm soát lao, tim mạch; tư vấn dinh dưỡng cộng đồng; hỗ trợ chẩn đoán các tình trạng nặng như suy thận cấp, suy hô hấp. Các trợ lý ảo sẽ giúp nhân viên y tế tuyến cơ sở quản trị và vận hành hiệu quả hơn.
Một chiến dịch đào tạo quốc gia mang tên “Cơ hội AI dành cho nhân viên y tế” đang được triển khai, đặt mục tiêu trang bị kỹ năng ứng dụng AI cho ít nhất 15.000 cán bộ y tế trong giai đoạn 2025–2026. Chương trình này bao gồm việc học cách sử dụng các công cụ AI để tối ưu hóa quy trình làm việc và chẩn đoán lâm sàng…
Cơ hội bắt tay thách thức
AI đang mở ra một chân trời mới, giúp con người có cuộc sống khỏe hơn và thọ hơn. Nhưng cơ hội luôn đi kèm thách thức.
Tại một hội nghị ở Hà Nội hồi tháng 5-2025, Tiến sĩ Angela Pratt, trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam, khẳng định AI có tiềm năng cải thiện sức khỏe cho hàng triệu người. Tại Philippines, theo lời bà, các bác sĩ tại đây dùng ứng dụng AI để chẩn đoán lao nhanh chóng ở các vùng đảo xa xôi trong 7.000 đảo của xứ này. Tại Thái Lan, bác sĩ từ xa dùng AI đánh giá nguy cơ đột quỵ, hỗ trợ bác sĩ ở các bệnh viện cơ sở vốn thiếu chuyên gia tim mạch, nhằm tận dụng “khung giờ vàng” cứu sống bệnh nhân.
Nhưng đại diện WHO cũng chỉ ra hai thách thức, rủi ro lớn khi Việt Nam ứng dụng AI trong điều trị y tế. Đầu tiên là bất bình đẳng về y tế, bởi AI có nguy cơ làm nới rộng khoảng cách giàu - nghèo. Nếu hạ tầng số yếu và người dân thiếu kỹ năng sử dụng, AI sẽ chỉ phục vụ một nhóm nhỏ, gây mất công bằng trong tiếp cận y tế. Kế đến là bảo mật dữ liệu, việc thiếu các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân sẽ làm xói mòn niềm tin của người dân - yếu tố tiên quyết để phổ biến công nghệ số.
Trong sáu khuyến nghị dành cho ngành y tế Việt Nam trong ứng dụng AI, bà Pratt đặc biệt nhấn mạnh về khung pháp lý và đạo đức AI trong y tế.
Cái đích ở phía trước?
Việt Nam có những chuyển động nhanh và rất nhanh, trước và sau thời điểm khuyến cáo của đại diện WHO.
Tháng 1-2021, Chính phủ công bố Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030, đưa y tế trở thành một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu để chuyển đổi số và ứng dụng AI. Tháng 1-2023, Trung tâm Thông tin y tế quốc gia thuộc Bộ Y tế ký kết với HealthAI, chính thức gia nhập Mạng lưới Quản lý AI Y tế Toàn cầu (GRN). Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt giúp Việt Nam xây dựng khung pháp lý và đạo đức y tế cho AI theo chuẩn quốc tế.
Việt Nam thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) 2025, là một trong những nước đầu tiên có bộ luật chuyên biệt và toàn diện về AI sau EU, Hàn Quốc và Ý. Có hiệu lực từ ngày 1-3-2026, luật AI được xây dựng với nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, bảo đảm an toàn và quyền của con người, ràng buộc trách nhiệm pháp lý của nơi phát minh và ứng dụng. Luật không để công nghệ tự vận hành mà không kiểm soát, áp dụng mô hình quản lý dựa trên phân loại rủi ro - thấp, trung bình và cao - như EU, như nhận xét của CEO Lữ Minh Trí của startup Hyper One Co. tại TPHCM.
Luật AI 2025 cũng có khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) dành cho những công nghệ AI quá mới, chưa có quy định cụ thể hoặc có nguy cơ cao nhưng tiềm năng lớn. Mục tiêu là tạo không gian giới hạn, dưới sự giám sát chặt của cơ quan quản lý để có thể ban hành các hướng dẫn chi tiết hơn, giúp các startup công nghệ Viêt Nam không bị các quy định cứng nhắc của luật “bóp nghẹt” ngay từ trong trứng nước.
Các nhà đầu tư và giới startup hiểu rõ thông điệp này.
“AI chỉ nên được xem là trợ lý thứ hai, đứng sau các bác sĩ. Chúng ta hãy luôn cẩn thận, có sự phản tỉnh và chỉ coi AI là công cụ hỗ trợ chứ không nên sử dụng để thay thế con người trong mọi lĩnh vực, đặc biệt y tế”, ông Nguyễn Huy Tuấn nhấn mạnh.
Còn ông Lữ Minh Trí đề cập đến sự phát triển mới của các startup công nghệ y tế đã xuất hiện như VinAI, VinBrain, Analise.ai, DeepCare Việt Nam, Genetica, Docosan… và cả những startup mới.
Hành trình đưa AI vào y tế Việt Nam không còn là cuộc đua công nghệ thuần túy, mà là cuộc chạy marathon giành giật sự sống từ tay tử thần. Việc sớm phát hiện những căn bệnh hiểm nghèo sẽ trở thành quyền lợi phổ quát, xóa nhòa khoảng cách bất bình đẳng trong tiếp cận y tế như cảnh báo của Tiến sĩ Angela Pratt. Khi công nghệ song hành cùng tình người và trách nhiệm, mỗi bệnh nhân bước ra từ phòng khám đều có thể mỉm cười, với niềm tin mãnh liệt vào một tương lai khỏe mạnh hơn.
6 khuyến nghị của WHO đối với AI trong y tế tại Việt Nam
1. Minh bạch cách thức phát triển và ứng dụng AI để xây dựng niềm tin công chúng
2. Giám sát chặt chẽ AI trong chẩn đoán để ngăn chặn các sơ suất y khoa
3. Bảo mật dữ liệu, huấn luyện AI trên dữ liệu đa dạng nhưng đồng thời bảo về quyền bảo mật cá nhân,
4. Quyền quyết định của chuyên viên y tế, AI chỉ hỗ trợ
5. Hạ tầng dữ liệu và kết nối đồng bộ
6. Hợp tác đa phương giữa bệnh nhân, chuyên gia và nhà quản lý để hoàn thiện khung pháp lý
Bà Angela Pratt, trưởng đại diện WHO tại Việt Nam





























