Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp xuất, nhập khẩu
Xây dựng luật để chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng hải quan số, hải quan thông minh.

Công chức hải quan hướng dẫn thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Phát biểu giải trình về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định: Xây dựng luật để chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng hải quan số, hải quan thông minh.
Để hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Quốc hội đã thể hiện rõ quan điểm, phân tích làm sâu sắc nhiều nội dung thực tiễn, góp ý cụ thể, đi thẳng vào các điều, khoản cốt lõi.
Hỗ trợ doanh nghiệp vùng khó khăn
Đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn Cần Thơ) cho biết: Hiện nay, xuất khẩu nông sản, thủy sản của Việt Nam liên tục tăng trưởng, vươn lên nhóm các quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới, nhất là về gạo, thủy sản, rau quả, sầu riêng... Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu trong lĩnh vực này đang gặp vấn đề thời gian thông quan kéo dài, dễ làm hư hỏng hàng hóa. Vì thế, nên nghiên cứu bổ sung quy định riêng đối với loại hàng hóa này được thực hiện cơ chế thông quan trước, kiểm tra sau, dựa trên kết quả đánh giá rủi ro điện tử và chứng nhận xuất xứ kiểm dịch tự động từ hệ thống một cửa quốc gia.
Việc quy định thời hạn 10 ngày làm việc để hải quan khu vực phản hồi hồ sơ kiểm tra, giám sát sở hữu trí tuệ là khá dài, chưa hợp lý trong bối cảnh tốc độ thông quan nhanh của thương mại quốc tế, dễ gây ùn tắc hàng hóa và làm gia tăng chi phí lưu kho bãi của doanh nghiệp.
Việc quy định thời hạn 10 ngày làm việc để hải quan khu vực phản hồi hồ sơ kiểm tra, giám sát sở hữu trí tuệ là khá dài, chưa hợp lý trong bối cảnh tốc độ thông quan nhanh của thương mại quốc tế, dễ gây ùn tắc hàng hóa và làm gia tăng chi phí lưu kho bãi của doanh nghiệp.
Nhất trí với việc thực hiện thống nhất hồ sơ hải quan điện tử, tuy nhiên, việc chuyển đổi hoàn toàn sang môi trường số chỉ thực hiện hiệu quả khi hạ tầng kỹ thuật và khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp bảo đảm đồng bộ, đại biểu Tráng A Dương (Đoàn Lào Cai) và một số đại biểu cho biết: Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gặp nhiều khó khăn về hạ tầng số và kỹ năng số. Cần ưu tiên giải pháp hỗ trợ khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm không làm gia tăng khoảng cách số trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Ở khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc, duyên hải, hải quan số giúp doanh nghiệp, hợp tác xã xuất khẩu cà-phê, sầu riêng, sản phẩm nông nghiệp, thủy sản giảm thời gian, chi phí đi lại và tuân thủ. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp, hợp tác xã còn nhỏ, năng lực công nghệ và pháp lý chưa đồng đều. Luật cần có cơ chế hỗ trợ khai báo, cảnh báo sai sót và hướng dẫn tuân thủ, không từ chối hồ sơ hoặc xử lý bất lợi đối với doanh nghiệp khi nguyên nhân xuất phát từ lỗi của hệ thống thông tin nhà nước.
Nguy cơ "treo" trạng thái kiểm tra
Dự thảo luật sửa đổi thời hạn kiểm tra sau thông quan từ 10 ngày làm việc lên nhiều nhất 20 ngày và có thể gia hạn thêm một lần không quá 20 ngày. Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Đoàn Quảng Trị) cho rằng, hiệu quả thực chất việc kéo dài thời hạn phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực khai thác, phân tích dữ liệu của cơ quan hải quan trong chính khoảng thời gian đó, bao gồm các dữ liệu: Khai báo hải quan, thuế, ngân hàng và định danh giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới.
Nếu hạ tầng kết nối giữa các hệ thống này chưa hoàn thiện, có cộng thêm nhiều ngày hơn nữa cũng không giúp nâng cao chất lượng kết luận kiểm tra, thậm chí còn kéo dài thời gian doanh nghiệp bị “treo” trạng thái kiểm tra, ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền và các giao dịch xuất, nhập khẩu của họ.
Có ý kiến phản ánh dự thảo chưa quy định cụ thể về thời hạn kiểm định, ban hành thông báo kết quả kiểm định, xem xét, đánh giá lại khi người khai hải quan có khiếu nại hoặc đề nghị đánh giá lại hàng hóa. Đồng thời, chưa làm rõ trách nhiệm của cơ quan kiểm định trong trường hợp chậm giải quyết hoặc có sự khác nhau giữa kết quả kiểm định và kết quả đánh giá lại. Đây là một trong những nội dung tác động trực tiếp đến thời gian thông quan cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khai hải quan, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước.
Đại biểu Lê Thị Thanh Lam (Đoàn Cần Thơ) đề nghị bổ sung nguyên tắc cơ quan hải quan không được yêu cầu người khai cung cấp lại các thông tin, dữ liệu hay chứng từ mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể khai thác được từ cơ chế một cửa quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia đã được chia sẻ; hạn chế kiểm tra trùng lặp cùng một nội dung đối với một lô hàng.
Hiện nay, loại hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử xuyên biên giới có đặc thù là số lượng giao dịch lớn nhưng giá trị từng đơn hàng nhỏ, yêu cầu luân chuyển nhanh, nếu áp dụng quy trình hàng hóa truyền thống có thể ách tắc tại các cửa khẩu, cho nên cần nghiên cứu cơ chế quản lý phù hợp dựa trên quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin và thủ tục hải quan điện tử rút gọn.
Không tạo thêm gánh nặng thủ tục
Việc bổ sung quy định quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử là rất cần thiết trong bối cảnh loại hình này tăng trưởng nhanh, khối lượng lớn, giá trị nhỏ và tần suất cao. Dự thảo luật đặt ra nghĩa vụ bắt buộc tổ chức, cá nhân tại Việt Nam khi mua, bán hàng với người nước ngoài qua nền tảng thương mại điện tử phải xác thực định danh điện tử. Đây là một nghĩa vụ pháp lý mới, có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và các chủ thể vận hành nền tảng thương mại điện tử.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Đoàn Quảng Trị) và nhiều đại biểu cho biết, dự thảo chưa có đánh giá đầy đủ về tính khả thi của quy định này, nhất là đối với điều kiện bảo đảm thực hiện trên thực tế. Cụ thể, chưa làm rõ khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống định danh điện tử quốc gia với các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, nhất là các nền tảng do nước ngoài vận hành.
Hồ sơ dự án luật cũng chưa đánh giá mức độ sẵn sàng của hạ tầng kỹ thuật, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, người dân và chưa đề xuất lộ trình triển khai phù hợp trước khi quy định này có hiệu lực. Hơn nữa, chưa có đánh giá mức độ tác động đối với người tiêu dùng cá nhân, bảo đảm quy định thuận tiện, không tạo gánh nặng thủ tục quá mức và phải thống nhất với pháp luật về định danh và xác thực điện tử về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
