Dấu hỏi chế biến sâu bô-xít, titan

Xuất khẩu bô-xít và titan đang được đặt trong bài toán cân đối nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến trong nước và phát triển chuỗi giá trị.

Trong nhóm khoáng sản chiến lược, bô-xít là một trong những trường hợp hiếm hoi đã hình thành được chuỗi khai thác, chế biến tương đối rõ tại Việt Nam.

Theo số liệu quy hoạch, trữ lượng và tài nguyên quặng bô-xít ở Lâm Đồng sau sáp nhập vào khoảng 7 tỷ tấn, tương đương khoảng 73% tổng trữ lượng và tài nguyên của cả nước. Trong đó, khoảng 3,45 tỷ tấn được xác định có khả năng huy động vào sản xuất.

Sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên của Việt Nam đã ra đời từ tháng 7/2026. Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng.

Sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên của Việt Nam đã ra đời từ tháng 7/2026. Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng.

Tại Tây Nguyên, chuỗi sản xuất hiện đã đi qua các công đoạn khai thác, tuyển quặng, hòa tách Bayer, kết tinh hydroxyt nhôm và nung thành alumin. Hai tổ hợp Tân Rai và Nhân Cơ đã đi vào vận hành thương mại từ năm 2013 và 2018, mỗi dự án có công suất khoảng 650.000 tấn alumin/năm. Riêng Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã đầu tư hơn 28.170 tỷ đồng cho hai dự án này.

Quy mô xuất khẩu phản ánh khá rõ vai trò của alumin trong chuỗi bô-xít hiện hữu. Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam xuất khẩu lần lượt khoảng 1,37 triệu tấn, 1,45 triệu tấn, 1,32 triệu tấn, 1,28 triệu tấn và 1,25 triệu tấn alumin, với kim ngạch tương ứng khoảng 582 triệu USD, 550 triệu USD, 466 triệu USD, 564 triệu USD và 568 triệu USD.

Như vậy, bô-xít hiện đã hình thành chuỗi từ khai thác, tuyển quặng đến sản xuất alumin, trong khi các công đoạn phía sau alumin tiếp tục được đầu tư. Đây cũng là lý do các dự án sản xuất nhôm kim loại được chú ý trong những năm gần đây.

Từ năm 2022, THACO tiến thêm một bước trong kế hoạch tham gia chuỗi bô-xít tại Lâm Đồng khi được tỉnh chấp thuận cho nghiên cứu, khảo sát dự án tổ hợp tuyển bauxite, chế biến alumin và sản xuất nhôm tại Bảo Lâm và Bảo Lộc.

Tổng vốn dự kiến khoảng 50.000 tỷ đồng, với công suất dự kiến 3,25 triệu tấn quặng tinh/năm, 1,3 triệu tấn alumin và 300.000 tấn nhôm. Đề xuất này cho thấy doanh nghiệp tính toán cả chuỗi từ tuyển quặng đến sản xuất nhôm kim loại.

Đến tháng 7/2026, nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông của Công ty TNHH Luyện kim Trần Hồng Quân công bố những thỏi nhôm đầu tiên được sản xuất trong nước, với độ tinh khiết 99,71%. Phân kỳ 1 có công suất 150.000 tấn nhôm/năm; theo kế hoạch, công suất được nâng lên 300.000 tấn/năm trong quý IV/2026 và 450.000 tấn/năm trong quý I/2027.

Việc xuất hiện thêm nhu cầu alumin cho sản xuất nhôm khiến bài toán nguồn nguyên liệu trong nước thay đổi. Khi công suất điện phân được nâng lên, nhu cầu alumin cho sản xuất trong nước cũng tăng theo, qua đó ảnh hưởng tới cân đối lượng alumin dành cho xuất khẩu.

Đây cũng là điểm được đặt ra trong dự thảo quy định mới về xuất khẩu khoáng sản chiến lược. Với bô-xít, nhóm sản phẩm được đưa vào diện xem xét xuất khẩu là hydroxyt nhôm, alumin sản xuất theo công nghệ Bayer và alumin thương mại; quặng bô-xít nguyên khai hoặc bô-xít đã tuyển không nằm trong nhóm này.

Ranh giới xuất khẩu vì vậy được đặt sau một số công đoạn chế biến thay vì mở đối với quặng đầu vào. Việc từng xuất khẩu một sản phẩm trong quá khứ cũng không đồng nghĩa nguồn nguyên liệu hiện tại vẫn dư thừa để tiếp tục xuất khẩu với quy mô tương tự.

Việc xác định khả năng xuất khẩu phải tính tới sản lượng khai thác, nhu cầu của các cơ sở đang hoạt động, các dự án chế biến sâu có khả năng hình thành và yêu cầu bảo đảm nguyên liệu cho sản xuất trong nước.

Với bô-xít, bài toán vì vậy đã chuyển dần từ sản lượng khai thác sang giữ lại bao nhiêu cho các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Nếu bô-xít đã hình thành được một chuỗi sản xuất khá rõ, titan lại cho thấy khoảng cách lớn giữa quy mô tài nguyên và năng lực chế biến.

Theo quy hoạch, Việt Nam có khoảng 611,3 triệu tấn quặng khoáng vật ilmenit và khoảng 82,4 triệu tấn zircon, phân bố tại nhiều tỉnh ven biển, trong đó Lâm Đồng là địa bàn đặc biệt lớn. Riêng Lâm Đồng có khoảng 566 triệu tấn tài nguyên và trữ lượng titan, chiếm hơn 92% tổng tài nguyên, trữ lượng titan của cả nước. Toàn tỉnh có 17 khu vực được quy hoạch cho hoạt động titan với tổng diện tích gần 16.000ha.

Được ví như thủ phủ titan của cả nước nhưng Lâm Đồng vẫn đang thiếu vắng chuỗi giá trị tài nguyên này. Ảnh: Ban quản lý các KCN Lâm Đồng.

Được ví như thủ phủ titan của cả nước nhưng Lâm Đồng vẫn đang thiếu vắng chuỗi giá trị tài nguyên này. Ảnh: Ban quản lý các KCN Lâm Đồng.

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên lớn chưa đồng nghĩa có thể tạo ra một chuỗi chế biến tương ứng. Cả nước hiện có khoảng 30 mỏ, điểm mỏ titan được cấp phép cho 26 doanh nghiệp, với tổng công suất thiết kế khoảng 1,31 triệu tấn quặng nguyên khai mỗi năm. Dẫu vậy, sản lượng thực tế thấp hơn đáng kể do nhiều cơ sở hoạt động dưới công suất, hoạt động gián đoạn hoặc phải tạm dừng.

Các công đoạn chế biến đã tạo ra ilmenit, rutin tự nhiên, zircon, bột zircon, ilmenit hoàn nguyên, xỉ titan và một số sản phẩm trung gian. Tuy nhiên, những mắt xích sâu hơn như TiCl4, pigment TiO2, titan xốp, titan kim loại và hợp kim titan chưa hình thành đồng bộ ở quy mô công nghiệp.

Bức tranh tại Lâm Đồng thể hiện rõ khoảng trống này. Ba dự án sản xuất xỉ titan tại địa phương có tổng công suất thiết kế khoảng 94.000 tấn/năm nhưng phần lớn rơi vào tình trạng đình trệ kéo dài.

Liên doanh Hải Tinh, Công ty CP Công nghiệp khoáng sản Bình Thuận và Công ty CP Sản xuất Zirconium và Titanium Hưng Thịnh là ba dự án có tên trong nhóm này. Những dự án chế biến sâu hơn để sản xuất pigment TiO2 và titan xốp chưa hoàn thành hoặc chưa thu hút được nhà đầu tư.

Giá trị thương mại cũng cho thấy tài nguyên sở hữu chưa tương xứng với chuỗi giá trị. Giai đoạn 2021-2025, Lâm Đồng xuất khẩu khoảng 134.380 tấn sản phẩm quặng titan, trị giá khoảng 118,4 triệu USD. Cùng thời gian, xuất khẩu alumin và hydroxyt nhôm đạt gần 7 triệu tấn, trị giá khoảng 3 tỷ USD.

Ngay tại những địa bàn có tài nguyên lớn, một số cơ sở chế biến titan lại thiếu nguyên liệu hoặc hoạt động dưới công suất. Điều này cho thấy quy mô tài nguyên địa chất không đồng nghĩa với khả năng cung cấp ổn định cho các nhà máy.

Đây là lý do phương án quản lý xuất khẩu đối với titan được tính toán chặt hơn ở nhóm nguyên liệu đầu vào. Dự thảo không đưa cát quặng sa khoáng, tinh quặng ilmenit hay quặng đuôi vào danh mục sản phẩm được xem xét xuất khẩu. Thay vào đó, hai nhóm sản phẩm được xem xét là xỉ titan loại 1 và bột zircon, tức những sản phẩm đã qua tuyển, chế biến hoặc nghiền mịn.

Trong trường hợp nguồn nguyên liệu titan trong nước không đủ cung cho các cơ sở chế biến, việc xuất khẩu quặng hoặc tinh quặng được đặt trong diện thận trọng. Xuất khẩu các sản phẩm này có thể làm giảm nguồn cung cho các nhà máy trong nước, giảm công suất chế biến và ảnh hưởng tới các dự án chế biến sâu hơn.

Thái Bình

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/dau-hoi-che-bien-sau-bo-xit-titan-d47569.html