Dấu ấn nơi vùng đất lửa
Những ngày đầu tháng Tư, tôi có một chuyến đi về thăm lại vùng đất Quảng Trị, nơi một thời là chiến tuyến, là vùng đất lửa ác liệt nhất của đất nước với những ấn tượng khó quên về con người và sự phát triển mau lẹ ở nơi này. Chứng kiến và thấu hiểu sâu sắc nỗi đau chia cắt, Quảng Trị cũng là nơi cảm nhận trọn vẹn nhất khát vọng sống, hòa bình, độc lập và tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Trở lại vùng đất lửa Quảng Trị lần này, chúng tôi thực sự xúc động và ấn tượng về vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử và có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Quảng Trị từng được xem là “chiến trường,” “trấn biên,” “phên giậu”. Sức chịu đựng phi thường, bền bỉ mà người dân đã phải trải qua trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc khiến ta càng cảm phục hơn trước màu xanh của sự đổi thay nhanh chóng ở nơi này. Quảng Trị là nơi vang tiếng chuông khát vọng vì hòa bình, xứng đáng là một biểu tượng hòa bình của thế giới.

Thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc.
Thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc đổ bóng xuống dòng sông Thạch Hãn hiền hòa. Mùa hè năm 1972, có khoảng 328.000 tấn bom đạn của giặc Mỹ đã dội xuống mảnh đất này. Trời và đất Quảng Trị đỏ rực một màu của máu và lửa, không một nhành cây, một ngọn cỏ nào có thể sống sót. Thế mà giờ đây, chính nơi đây là những thảm cỏ, những hàng cây xanh rờn, vươn lên trong nắng xuân ấm áp, trải rộng mênh mông. Đến với mảnh đất Thành cổ, có lẽ ai ai cũng cảm nhận được sự linh thiêng từ cỏ cây hoa lá, cho đến từng viên gạch, bởi tất cả đều thấm đẫm máu của các Anh hùng liệt sĩ.
Gặp chúng tôi trong đoàn hành hương về thắp lửa tri ân ở Thành cổ Quảng Trị, chị Trần Bích Liên ở thành phố Đà Nẵng chia sẻ: "Tôi được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hòa bình không còn cảnh bom đạn. Thành quả có được từ xương máu của cha ông thế hệ đi trước. Đến với Thành cổ Quảng Trị không chỉ là đến với một di tích lịch sử mà còn là đến với một nghĩa trang, một nghĩa trang không có nấm mồ. Bởi tuổi thanh xuân cùng bao ước nguyện của các Anh hùng liệt sĩ đã hóa thân trong từng tấc đất, ngủ sâu trong lòng đất mẹ. Không những thế hệ trẻ chúng tôi, mà cả với dân tộc Việt Nam và bạn bè trên khắp thế giới thì hai chữ Quảng Trị không còn là địa danh của một địa phương mà đã thành một biểu tượng, niềm tự hào chung về một thời hào hùng của một dân tộc anh hùng”.
Cách Thành cổ chừng 3km, chúng tôi đến xã Triệu Thành (cũ) nay là xã Triệu Phong, thăm nhà và dâng hương lên bàn thờ để tưởng nhớ cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, một người con anh hùng của quê hương Quảng Trị, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng và công tác sau này, với tư duy chiến lược sáng tạo, ông đã dẫn dắt Đảng và nhân dân ta vượt qua chiến tranh, vững vàng trước những biến động phức tạp của thời đại, xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xuôi về Cửa Việt, men theo Đường 9 rồi rẽ phải theo Quốc lộ 1 ra địa bàn Bắc Quảng Trị (Quảng Bình cũ).

Hoàng hôn bên dòng sông ở Nam Cửa Việt.
Đã nhiều lần ra thăm Quảng Trị, nhưng đây là lần đầu tiên tôi đi trên con đường này vào một buổi sáng mùa Xuân cùng một người bạn vừa là tài xế vừa là hướng dẫn viên. Không phải chỉ có “cát trắng, gió Lào”, con đường đưa tôi đi qua những cánh đồng rộng lớn với những ruộng lúa non đang bén gốc lên xanh tốt. Trên đường đi, bạn giới thiệu cho chúng tôi một vùng từng là khu phi quân sự với những cánh đồng mênh mông nổi tiếng với hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra. Ngày nay, sự sống đã hồi sinh với những mái nhà yên ả giữa vườn cây trái xanh tốt. Cây cầu Hiền Lương bắc qua dòng Bến Hải trong chiến tranh là giới tuyến tạm thời ngăn chia hai miền Nam Bắc, giờ là một di tích lịch sử để người dân địa phương và du khách khắp nơi đến thăm và tìm hiểu thêm về một thời ngăn cách đôi bờ. Cái nắng mùa hè như làm trong xanh hơn, đẹp và hấp dẫn hơn dòng sông Bến Hải. Thiên nhiên quả thật đã ban tặng cho vùng đất này một bức tranh hoàn hảo. Những con đường uốn cong theo dọc bờ sông, hàng tre, cánh đồng, vườn cây, những ngôi nhà cứ hòa quyện với nhau tạo nên một hình ảnh thân quen, thanh bình, không còn dấu vết của cuộc chiến tranh tàn khốc hơn nửa thế kỷ trước với bao bom mìn và sự hủy diệt tàn khốc.
Xe vào địa phận xã Sen Ngư - Bắc Quảng Trị với những cồn cát trắng nối tiếp. Đây là nét đặc trưng của vùng đất này đem đến cho nó một vẻ đẹp riêng mà không nơi nào có được. Trên những cồn cát ấy bây giờ là cánh đồng điện gió rộng lớn men theo một quãng đường dài bao phủ một màu xanh cây trái. Điểm đầu tiên ở phường Đồng Hới mà chúng tôi tìm đến là Tượng đài mẹ Suốt bên dòng sông Nhật Lệ. Câu chuyện về mẹ Suốt đã đi vào bài học tuổi thơ của những thế hệ học trò. Dòng sông có cái tên rất đẹp và thực tế còn đẹp hơn trong suy nghĩ của tôi trước khi đến đây. Tôi xúc động đứng bên tượng đài của mẹ, hình dung ra hình ảnh người mẹ với mái tóc bạc phơ nhưng mạnh mẽ, cúi người trên mái chèo để ngày đêm đưa bộ đội qua sông dưới bom đạn kẻ thù. Người mẹ anh hùng ấy đã ngã xuống nhưng vẫn sống mãi trong lòng đất mẹ, bên dòng sông đầy ắp những chiến tích anh hùng mà mẹ đã bao lần “một tay lái chiếc đò ngang”.
Thời gian ở đây không nhiều, sau khi đi một vòng quanh phường Đồng Hới, Đồng Thuận, Đồng Sơn chúng tôi đến Khu du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng. Một khung cảnh hùng vĩ với những ngọn núi sừng sững, những hang động nối tiếp nhau. Trong gió ngàn Trường Sơn, trên dòng sông Son khi đi qua bến phà A, bến phà Nguyễn Văn Trỗi của con đường 20 Quyết Thắng năm xưa, dường như tôi vẫn nghe vang vọng âm thanh của những đoàn quân hùng dũng ra trận ngày nào. Với khẩu hiệu “Sống bám đường, chết kiên cường, dũng cảm”, bộ đội các đơn vị chủ lực, địa phương và thanh niên xung phong đã bám trụ chiến đấu, hàng trăm người con của quê hương đã ngã xuống, để hôm nay cho màu xanh của dòng sông Son, màu xanh cây trái ở đây hòa quyện, phát triển.
Một ngày với vùng đất Quảng Trị là một thời gian quá ngắn để khám phá. Nhưng cái ấn tượng còn đọng mãi trong tôi là màu xanh của nước, của trời và của cây lá, một màu xanh của sức sống trường tồn, là vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam. Mặt trời trốn mình sau dãy Trường Sơn, để lại trong không gian một màu tím hồng vợi nhẹ. Tôi chợt khe khẽ hát câu hát: Về đây một màu xanh thương đến thế, ơi đất trời Quảng Trị yêu thương…!



























