Đánh thức 'khối di sản tĩnh' ở TPHCM

Nếu bài toán của TPHCM chỉ là thiếu di sản, câu chuyện hẳn đã đơn giản hơn nhiều. Nhưng thực tế, thành phố đang đối diện một bài toán khó hơn: di sản có đó, song chưa được vận hành như một nguồn lực phát triển.

Nhiều năm qua, không ít công trình đã được trùng tu, nhiều không gian được bảo vệ, thậm chí nằm ở những vị trí trung tâm TPHCM, nhưng giá trị kinh tế - xã hội mà các di sản này tạo ra vẫn rất hạn chế. Di sản vì thế tồn tại như một “khối tĩnh”: được gìn giữ, được nhắc đến, được khai thác nhưng chưa thực sự được “chạy” để tham gia vào dòng chảy đô thị.

Khi “chốt khóa” di sản vẫn còn cài

Luật Di sản văn hóa 2024 xác lập rõ vai trò của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý phần lớn di sản thuộc sở hữu toàn dân (điều 11, điều 23). Đồng thời, luật đặt yêu cầu bảo đảm giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích như một nguyên tắc xuyên suốt trong bảo tồn và phát huy di sản (điều 5).

Du khách tham quan, tìm hiểu các không gian trưng bày tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn. Ảnh: Ng. Khuyến

Du khách tham quan, tìm hiểu các không gian trưng bày tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn. Ảnh: Ng. Khuyến

Ở chiều ngược lại, luật cũng yêu cầu việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản phải được lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng và địa phương, đồng thời cho phép khai thác, sử dụng và hỗ trợ các hoạt động dịch vụ gắn với di sản văn hóa (điều 6; điều 7; điều 88). Về mặt nguyên tắc, di sản không chỉ để gìn giữ, mà còn được kỳ vọng tham gia vào dòng chảy phát triển.

Tuy nhiên, khó khăn nảy sinh trong quá trình thực thi. Luật quy định nghiêm cấm mọi hành vi làm sai lệch giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của di sản, đồng thời trách nhiệm pháp lý của người quản lý di tích cũng được xác định rất rõ. Trong bối cảnh Lluật chưa thiết kế một “vùng thử nghiệm an toàn” cho các mô hình khai thác mới, ranh giới giữa đổi mới sáng tạo và vi phạm pháp luật trở nên mong manh. Khi mọi rủi ro đều quy về trách nhiệm cá nhân, lựa chọn ít rủi ro nhất trong thực tế quản lý thường là không cho làm.

Ở cấp thực thi, dù thẩm quyền quản lý, bảo vệ và phát huy di sản trên địa bàn thuộc về UBND cấp tỉnh, các đề án khai thác, trưng bày, đầu tư bảo tàng hoặc tổ chức hoạt động trong di tích vẫn phải đi qua nhiều tầng thẩm định chuyên môn và chịu sự giám sát của hệ thống thanh tra. Trong cấu trúc này, quyền quyết định nằm ở địa phương, nhưng quyền “phán xét” lại đến từ nhiều cấp khác nhau. Khi mỗi quyết định đều tiềm ẩn rủi ro hậu kiểm, việc không quyết định gì trở thành lựa chọn an toàn nhất. Di sản vì thế bị “khóa chặt” không bởi một lệnh cấm cụ thể, mà bởi sự kết hợp giữa quản lý tập trung, yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt yếu tố gốc và thiếu cơ chế bảo vệ tương xứng cho đổi mới.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Phạm Anh Vũ, Phó tổng giám đốc Công ty Du lịch Việt, cho rằng nhu cầu trải nghiệm di sản của khách châu Âu, Mỹ là rất lớn, nhưng doanh nghiệp lữ hành gần như không có “không gian hành động”. Các tour hiện nay chủ yếu xoay quanh những di tích lớn gắn với chiến tranh như Địa đạo Củ Chi hay Dinh Thống Nhất; phần lớn các công trình kiến trúc và bảo tàng khác chỉ dừng ở vai trò điểm tham quan ngắn, thiên về ngắm nhìn và chụp hình.

Bảo tàng Biệt động Sài Gòn thu hút đông đảo du khách đến tham quan và trải nghiệm lịch sử.

Bảo tàng Biệt động Sài Gòn thu hút đông đảo du khách đến tham quan và trải nghiệm lịch sử.

Trong khi đó, khách quốc tế ngày nay không đến di tích chỉ để nhìn, mà để hiểu cách con người từng sống, những biến cố lịch sử đã diễn ra và mối liên hệ của di sản với đời sống hiện đại. Tuy nhiên, khi xây dựng sản phẩm gắn với di sản, doanh nghiệp thường vấp phải nhiều rào cản, như thủ tục xin phép tổ chức hoạt động tương tác phức tạp, thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương, hạ tầng dịch vụ tại di tích chưa đáp ứng, các điểm đến hoạt động rời rạc và thiếu liên kết tuyến.

Hệ quả là di sản khó trở thành sản phẩm du lịch có giá trị cao. Khi không kéo dài được thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, di sản buộc phải dừng ở vai trò “điểm ghé” thay vì “điểm đến”.

Một vấn đề khác là Luật Di sản văn hóa 2024 cho phép khai thác, sử dụng và phát huy giá trị di sản, thậm chí khuyến khích kinh doanh dịch vụ gắn với di sản. Nhưng nếu các quyền đó không được vận hành trên thực tế, di sản vẫn chỉ mở cửa giờ hành chính, thiếu hoạt động ban đêm và thiếu trải nghiệm tương tác. Một đô thị không kể được câu chuyện của mình bằng chính di sản sẽ rất khó giữ chân du khách trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các thành phố châu Á.

Di sản chưa có mô hình kinh tế

Ở tầng sâu hơn, phần lớn di sản tại TPHCM chưa từng được đặt trong một mô hình kinh tế rõ ràng. Chúng được bảo tồn như một nhiệm vụ công, nhưng không được thiết kế để tự tạo nguồn lực.

Bà Phan Yến Ly, người có hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực du lịch, cho rằng di sản cận đại của TPHCM là một “thương hiệu” rất riêng. Nhưng nếu không gắn với sản phẩm cụ thể và mô hình vận hành rõ ràng, giá trị ấy chỉ nằm trên giấy. Khi di sản không tạo ra doanh thu, mọi nỗ lực phát huy đều phụ thuộc vào ngân sách, trong khi ngân sách luôn có giới hạn.

Theo bà Ly, Singapore là một ví dụ đáng tham khảo khi biến di sản thành tài sản kinh tế bền vững thông qua bảo tồn có chọn lọc và tái sử dụng sáng tạo. Thay vì “đóng băng” di sản, Singapore phân vùng rõ các khu di sản theo lịch sử và cộng đồng, cho phép bảo tồn mặt tiền kiến trúc trong khi tái cấu trúc linh hoạt không gian bên trong, đưa di sản trở thành không gian sống, thương mại và giải trí năng động. Những khu vực như Chinatown hay Kampong Glam không chỉ được bảo tồn về mặt lịch sử, mà còn hòa nhập vào đời sống đương đại, kể cả kinh tế đêm.

ThS. Michal Teague, Phó chủ nhiệm bộ môn Thiết kế ứng dụng sáng tạo, Đại học RMIT Việt Nam, cho rằng nhiều không gian di sản tại TPHCM hoàn toàn có thể trở thành điểm nhấn thu hút du khách nếu được tiếp cận một cách thấu đáo và toàn diện về thiết kế, kể chuyện và phát triển.

Theo bà Michal Teague, khu vực Bến Thành, bao gồm chợ và các tuyến phố lịch sử xung quanh có tiềm năng lớn để hình thành các hoạt động kinh tế văn hóa về đêm. Bà cũng cho rằng, thông qua diễn giải sáng tạo, hướng dẫn kỹ thuật số và hợp tác cộng đồng, các khu vực hậu công nghiệp hay di sản của cộng đồng di cư ở quận 5, quận 6 (cũ) có thể trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, vừa tôn vinh bản sắc đô thị, vừa tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế của TPHCM thể hiện rõ qua các con số. Trong 11 tháng, thành phố đón gần 7,4 triệu lượt khách quốc tế và 37,3 triệu lượt khách nội địa, với tổng thu du lịch ước đạt gần 234.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, theo Sở Văn hóa và Thể thao, hiện chỉ khoảng 20% di sản trên địa bàn được khai thác phục vụ tham quan - trải nghiệm, và mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 là nâng con số này lên 40%.

Những con số đó cho thấy “chốt khóa” di sản không nằm ở thiếu nhu cầu hay thiếu tiềm năng, mà nằm ở cách vận hành.

Những chuyển động

Dù vậy, bức tranh không hoàn toàn tối màu. Việc TPHCM gần đây đầu tư hơn 34 tỉ đồng để chiếu sáng các công trình biểu tượng như Cột cờ Thủ Ngữ, Cầu Mống, Nhà Thiếu nhi Thành phố, chợ Bến Thành, Bảo tàng TPHCM... cho thấy khi di sản được nhìn nhận sẽ phát huy được giá trị.

Theo ông Nguyễn Kim Toản, CEO Saigon Waterbus, cảnh quan sông nước sau khi được đầu tư đã tạo ra sức hút rõ rệt. Các sản phẩm du lịch trên sông Sài Gòn như Water Bus hay Water Go cũng vì thế trở nên có điểm nhấn hơn thay vì là những khối bê tông đứng yên. “Thực tế này cho thấy di sản không nhất thiết phải được “đại tu”, mà cần được kết nối đúng cách với không gian đô thị và nhu cầu trải nghiệm của du khách”, ông Toản chia sẻ.

Một ví dụ khác là Bảo tàng Biệt động Sài Gòn. Thay vì trưng bày tĩnh, bảo tàng kể câu chuyện lịch sử thông qua không gian thật, con người thật và trải nghiệm nhập vai. Mỗi năm, bảo tàng đón khoảng 20.000-30.000 lượt khách, với nguồn thu đủ để tự duy trì vận hành. Điểm then chốt không nằm ở quy mô hay ngân sách, mà ở cách vận hành di sản như một trải nghiệm sống.

Những ví dụ nêu trên chưa phải là tất cả nhưng cho thấy, khi được đặt trong một chiến lược vận hành phù hợp, di sản không chỉ được bảo tồn, mà còn có thể trở thành động lực kích hoạt không gian đô thị và trải nghiệm du lịch, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò “điểm ghé” quen thuộc.

Từ “bảo tồn tĩnh” sang “di sản sống”

Thay vì coi các di tích lịch sử - văn hóa là những không gian cần khoanh vùng bảo vệ và “đóng băng”, hoặc chỉ phát huy ở mức độ nhất định về mặt kinh tế, TPHCM cần chuyển sang tư duy tái tạo hoặc bổ sung công năng, để di sản có vị trí thực sự trong đời sống đô thị.

Du khách trải nghiệm Địa đạo Củ Chi. Ảnh: N.K

Du khách trải nghiệm Địa đạo Củ Chi. Ảnh: N.K

Bàn về hướng chuyển đổi này, trong một hội nghị về di sản diễn ra tại TPHCM vào cuối tháng 11, PGS.TS. Đặng Văn Bài, Phó chủ tịch Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia, cho rằng bảo tồn không thể chỉ dừng ở trùng tu vật thể, mà cần thiết kế các mô hình sử dụng phù hợp để di sản tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội đương đại. Theo ông, di sản ngày nay là tài sản chung, đòi hỏi một cơ chế điều phối vượt qua các rào cản hành chính, đủ thẩm quyền để thống nhất quy chế bảo tồn và khai thác, từ tiêu chuẩn xếp hạng di tích đến quy định sử dụng đất vùng đệm. Quan trọng hơn, cơ chế này phải thiết lập được chính sách chia sẻ lợi ích công bằng từ các tuyến du lịch và các dự án công nghiệp văn hóa vùng, qua đó tháo gỡ tâm lý cục bộ địa phương và khuyến khích các địa phương cùng đầu tư, quảng bá di sản chung.

Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách hạn chế, việc vận dụng cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong bảo tồn di sản văn hóa vùng đô thị đặc thù là hướng đi cần được xem xét nghiêm túc. Cách tiếp cận này đòi hỏi chuyển từ mô hình “phụ thuộc ngân sách” sang “xã hội hóa thông qua cơ chế thị trường”, nhằm biến di sản từ gánh nặng tài chính thành tài sản có khả năng tự tái tạo nguồn lực. Tuy nhiên, để thu hút khu vực tư nhân, thách thức lớn nhất vẫn là tính chưa rõ ràng của cơ chế thu hồi vốn. Vì vậy, TPHCM mở rộng cần kiến nghị ban hành một nghị quyết thí điểm về hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa vùng, với những quy định đặc thù và đủ sức bảo vệ nhà đầu tư trước các rủi ro pháp lý.

Thực tế cho thấy, việc phân loại rõ di sản là điều kiện tiên quyết để áp dụng linh hoạt các mô hình PPP. Với những di sản có khả năng khai thác thương mại cao như kiến trúc đô thị hay làng nghề truyền thống, mô hình hợp tác công - tư toàn diện có thể được triển khai. Ngược lại, với các di tích lịch sử - cách mạng có giá trị đặc biệt như nhà tù Côn Đảo hay Địa đạo Củ Chi, Nhà nước cần giữ vai trò quản lý cốt lõi, trong khi khu vực tư nhân chỉ tham gia ở các khâu dịch vụ phụ trợ như vận hành khu dịch vụ du lịch, số hóa di tích hoặc cung cấp dịch vụ công theo hợp đồng.

Để các mô hình hợp tác công - tư có thể vận hành bền vững, việc thiết kế các công cụ tài chính và thiết chế hỗ trợ phù hợp là yếu tố then chốt. Trong đó, Quỹ bảo tồn di sản văn hóa vùng được kỳ vọng đóng vai trò “xương sống” tài chính, bảo đảm tính ổn định và tự chủ cho các chiến lược bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa của vùng đô thị đặc biệt TPHCM mở rộng.

Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Thị Hậu, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TPHCM, kiến nghị thành lập Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn di sản đô thị TPHCM với chức năng nghiên cứu, tư vấn và triển khai các dự án tích hợp. Trung tâm này sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu di sản khảo cổ - đô thị số hóa phục vụ quy hoạch và giáo dục; cập nhật quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan khu trung tâm lịch sử; phát triển các sản phẩm du lịch di sản đô thị như “Sài Gòn - từ lòng đất đến đô thị sáng tạo”. Theo bà, phát triển công nghiệp văn hóa từ tiềm năng di sản cần được xác định là hướng đi dài hạn, trong đó vai trò của giới chuyên môn và nhà đầu tư phải được đặt đúng vị trí.

Một điểm chung được các chuyên gia nhấn mạnh là di sản chỉ có thể tồn tại bền vững khi gắn với sinh kế của cộng đồng. Theo bà Lê Tú Cẩm, Chủ tịch Hội Di sản TPHCM, di sản không chỉ để lưu giữ mà còn là “nguồn nguyên liệu” cho sáng tạo, từ triển lãm, du lịch văn hóa đến các sản phẩm nghệ thuật đương đại. Di sản chỉ thực sự sống khi được tái tạo liên tục trong đời sống hiện đại, thay vì bị cô lập trong không gian trưng bày.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, di sản chỉ phát huy giá trị khi gắn liền với đời sống đô thị. KTS.TS. Hoàng Anh Tú dẫn ví dụ khu phố La Macarena (Seville, Tây Ban Nha), nơi các công trình lịch sử được bảo tồn song song với sinh hoạt văn hóa, thương mại và cư trú. Ở châu Á, George Town (Malaysia) hay Hội An cho thấy hiệu quả của mô hình bảo tồn gắn với sinh kế cộng đồng, khi cư dân trở thành chủ thể gìn giữ và hưởng lợi từ di sản.

Khi di sản không tạo ra giá trị kinh tế, nó sớm muộn cũng trở thành gánh nặng ngân sách. Nhưng khi được vận hành như một nguồn lực - có dòng tiền, có cộng đồng tham gia và có sáng tạo, di sản sẽ tự bảo vệ chính mình.

Ngọc Khuyến

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/danh-thuc-khoi-di-san-tinh-o-tphcm/