Đã có cơ chế cho khu đô thị lấn biển
Việc Quốc hội (QH) luật hóa cơ chế, chính sách đối với khu đô thị lấn biển (KĐTLB) được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý ổn định để khai thác hiệu quả hơn không gian biển, mở rộng không gian phát triển đô thị và huy động nguồn lực xã hội.
Luật Phát triển đô thị được QH thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất tại Điều 19 đã quy định tương đối toàn diện từ nguyên tắc đầu tư, điều kiện đối với nhà đầu tư chiến lược, ưu đãi và nghĩa vụ của nhà đầu tư đến khai thác khoáng sản phục vụ dự án, chỉ tiêu quy hoạch và quản lý, sử dụng đất tại KĐTLB.
Từ yêu cầu mở rộng không gian phát triển đến khuôn khổ pháp lý ổn định
Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất vừa qua, trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển đô thị, nhiều đại biểu QH đề nghị luật hóa cơ chế, chính sách đối với dự án KĐTLB và QH đã dành một buổi thảo luận về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng KĐTLB để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.
Theo nội dung giải trình của Chính phủ, tiếp thu ý kiến của các đại biểu QH, dự thảo Luật đã bổ sung một điều (Điều 19) trong Mục 3 về phát triển kinh tế của Chương II về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt, để quy định riêng về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển KĐTLB. Điều 19 được xây dựng theo hướng bao quát các nhóm vấn đề cốt lõi, gồm: nguyên tắc đầu tư, xây dựng, phát triển KĐTLB; điều kiện đối với nhà đầu tư chiến lược; ưu đãi, hỗ trợ và nghĩa vụ của nhà đầu tư; thẩm quyền quyết định một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất; cơ chế khai thác khoáng sản phục vụ dự án; cùng các quy định về quản lý, sử dụng khu vực biển và đất đai tại KĐTLB.
Qua thảo luận, đa số đại biểu QH cho rằng đây không chỉ là câu chuyện tạo thêm quỹ đất cho phát triển đô thị mà còn liên quan đến việc mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển, khai thác hiệu quả nguồn lực biển, hình thành các cực tăng trưởng mới và huy động nguồn lực lớn từ khu vực ngoài nhà nước. Đi cùng với mở rộng không gian phát triển thì phải kiểm soát chặt chẽ về quy hoạch, môi trường, quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo, năng lực nhà đầu tư và trách nhiệm trong quá trình thực hiện.
Những yêu cầu đặt ra đối với KĐTLB
Theo Điều 19 Luật Phát triển đô thị, việc đầu tư, xây dựng và phát triển KĐTLB được hình thành thông qua hoạt động lấn biển trước hết phải bảo đảm phù hợp với Quy hoạch tổng thể TP, quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch chung TP và các quy hoạch khác có liên quan; đồng thời phải bảo đảm đồng bộ với hệ thống đô thị và kết cấu hạ tầng của khu vực.
Một nguyên tắc quan trọng được Luật xác lập là hoạt động đầu tư, xây dựng KĐTLB phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển. Dự án không được làm cản trở giao thông, hoạt động hàng hải, việc khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên biển cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Điều 19 yêu cầu việc đầu tư, xây dựng và phát triển dự án phải dựa trên đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên và các yếu tố đặc thù của khu vực biển. Các yếu tố phải được xem xét gồm địa chất, địa mạo, thủy văn, hải văn, dòng chảy, chế độ sóng, bùn cát, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Bên cạnh đó là đánh giá tác động của dự án đối với khu vực ven biển và các khu vực lân cận.
Yêu cầu này được đặt cùng với khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai và các tác động khác của môi trường trong suốt vòng đời dự án. Do đó, việc lấn biển không chỉ được xem xét ở thời điểm triển khai xây dựng mà phải tính đến khả năng vận hành, khai thác và những tác động lâu dài của công trình.
KĐTLB cũng phải kết nối với hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải và các hệ thống hạ tầng thiết yếu khác trên đất liền. Đây là yêu cầu nhằm tránh tình trạng hình thành một khu đô thị biệt lập, trong khi hạ tầng kết nối và năng lực đáp ứng của khu vực chưa tương xứng.
Một nguyên tắc khác được Điều 19 nhấn mạnh là hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư, cộng đồng và các chủ thể liên quan, bảo đảm không gian công cộng, công trình hạ tầng công cộng và quyền tiếp cận biển của người dân theo quy định của pháp luật. Nhà đầu tư có trách nhiệm quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình lấn biển và các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu vực dự án, KĐTLB; thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và khắc phục các tác động bất lợi phát sinh theo quy định của pháp luật. Điều 19 cũng yêu cầu tuân thủ Luật Phát triển đô thị và các quy định pháp luật có liên quan trong trường hợp Luật này không có quy định.
Nhà đầu tư chiến lược được hưởng ưu đãi nhưng đi kèm trách nhiệm
Một nội dung đáng chú ý khác của Điều 19 là thiết kế cơ chế dành cho nhà đầu tư chiến lược thực hiện dự án KĐTLB. Theo Luật, Chính phủ quy định tiêu chí đối với dự án đầu tư xây dựng KĐTLB để thu hút nhà đầu tư chiến lược, đồng thời quy định điều kiện xác định nhà đầu tư chiến lược để được hưởng cơ chế, chính sách theo Luật.
Nhà đầu tư chiến lược thực hiện dự án là nhà đầu tư được lựa chọn theo quy định tại khoản 5 hoặc khoản 6 Điều 36 của Luật và được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của Luật. Trong đó, thời hạn hoạt động của dự án đầu tư xây dựng KĐTLB không quá 70 năm.

Phối cảnh một khu đô thị lấn biển. (Ảnh minh họa: Chinhphu.vn)
Cùng với ưu đãi, nhà đầu tư chiến lược phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật. Đáng chú ý, nhà đầu tư không được chuyển nhượng toàn bộ dự án khi chưa hoàn thành dự án. Dự án có thể được chuyển nhượng một phần nhưng phải đáp ứng các nguyên tắc và điều kiện chuyển nhượng theo pháp luật về đầu tư, pháp luật về kinh doanh bất động sản; phần dự án được chuyển nhượng không vượt quá 50% phần diện tích đất lấn biển đã hoàn thành đầy đủ hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung.
Quy định này tạo sự gắn kết giữa cơ chế ưu đãi và trách nhiệm thực hiện dự án đến cùng, hạn chế tình trạng nhà đầu tư nhận dự án rồi chuyển nhượng toàn bộ trước khi hoàn thành các nghĩa vụ đầu tư, hạ tầng.
Đây cũng là một trong những vấn đề được đại biểu QH quan tâm khi thảo luận. Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Đại biểu QH tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, việc yêu cầu nhà đầu tư được lựa chọn theo quy định và đáp ứng thêm các điều kiện riêng là phù hợp với tính chất, quy mô đặc thù của dự án. Đồng thời, Đại biểu đề nghị năng lực tài chính phải gắn với kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự, năng lực quản trị và khả năng bảo đảm nguồn vốn theo tiến độ trong suốt quá trình thực hiện.
Đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn TP Hải Phòng) cũng lưu ý quy mô dự án không chỉ thể hiện ở số vốn mà còn ở diện tích lấn biển, mức độ thay đổi đường bờ và những hệ quả lâu dài. Vì vậy, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư cần bảo đảm tính bền vững và khả năng quản trị rủi ro trong suốt vòng đời dự án.
Điều 19 còn trao cho UBND TP thẩm quyền quyết định các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch tại KĐTLB khi chưa có quy định hoặc khi yêu cầu cao hơn quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn. Tuy nhiên, các chỉ tiêu được quyết định phải bảo đảm đáp ứng hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hệ thống công trình hạ tầng xã hội. Đây là nội dung thể hiện rõ hơn cơ chế phân cấp, tạo điều kiện để địa phương chủ động xử lý các yêu cầu đặc thù của từng dự án, nhưng vẫn đặt trong giới hạn của yêu cầu về hạ tầng và quy chuẩn…
Như vậy, Điều 19 không chỉ tạo cơ chế để phát triển KĐTLB mà còn đặt ra một hệ thống nguyên tắc và trách nhiệm tương đối đầy đủ, từ quy hoạch, quốc phòng - an ninh, môi trường, hạ tầng, nhà đầu tư đến tài nguyên khoáng sản và đất đai. Đây là điểm quan trọng trong thiết kế chính sách: tạo không gian và cơ chế cho phát triển nhưng không tách rời yêu cầu kiểm soát rủi ro, bảo vệ lợi ích công cộng và trách nhiệm của nhà đầu tư.
Một cơ chế đáng chú ý khác là việc khai thác khoáng sản phục vụ dự án đầu tư xây dựng KĐTLB thuộc dự án thu hút nhà đầu tư chiến lược. Theo đó, dự án được áp dụng cơ chế, chính sách khai thác khoáng sản theo pháp luật về địa chất và khoáng sản như đối với công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia.
Riêng việc khai thác cát biển phục vụ dự án phải thực hiện lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Quy định này đặt yêu cầu kiểm soát môi trường song hành với việc tháo gỡ nguồn vật liệu cho các dự án.
Về thẩm quyền, Điều 19 quy định Chủ tịch UBND TP quyết định giao khu vực biển để thực hiện khai thác khoáng sản phục vụ dự án đối với các mỏ có phạm vi khai thác nằm trong ranh giới quản lý hành chính của địa phương và trong vùng lãnh hải, sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và lấy ý kiến của Bộ quản lý chuyên ngành về khoáng sản. Việc giao khu vực biển phải thực hiện theo các nguyên tắc, căn cứ của pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
