Công thức tính khẩu phần giúp trẻ bứt phá chiều cao, cân nặng
Chế độ dinh dưỡng hợp lý không chỉ ngăn ngừa tình trạng suy dinh dưỡng hay béo phì, mà còn là chìa khóa giúp trẻ tối ưu tiềm năng chiều cao, cân nặng và bứt phá đà tăng trưởng.

Cung cấp dinh dưỡng hợp lý giúp trẻ tăng chiều cao tối ưu. Ảnh: Shutterstock.
Theo bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Ngọc Hương, Viện Dinh dưỡng TP.HCM, sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ phụ thuộc trực tiếp vào nền tảng dinh dưỡng hàng ngày. Trong đó, giai đoạn 1.000 ngày đầu đời được xem là thời điểm vàng quyết định tầm vóc tương lai. Bước sang giai đoạn từ 5 đến 19 tuổi, dinh dưỡng tiếp tục đóng vai trò chiến lược để phát triển chiều cao, củng cố thể lực và giúp nhóm trẻ từng chậm lớn kịp thời bắt kịp đà tăng trưởng chuẩn.
Để xây dựng thực đơn giúp trẻ bứt phá thể chất, bác sĩ Hương nhấn mạnh việc tính toán năng lượng khẩu phần đóng vai trò then chốt. Trẻ từ 0 đến 19 tuổi thông thường áp dụng theo bảng Nhu cầu Dinh dưỡng Khuyến nghị cho người Việt Nam. Tuy nhiên, với trẻ dưới 5 tuổi chậm tăng cân hay thiếu hụt chiều cao, bác sĩ hướng dẫn phụ huynh có thể tính nhu cầu năng lượng theo hai công thức chuyên biệt.
Nếu tính theo cân nặng thực tế, trẻ dưới 10 kg cần 100 Kcal cho mỗi kg mỗi ngày. Trẻ từ 10 đến 20 kg áp dụng mức 1.000 Kcal cộng thêm 50 Kcal cho mỗi kg vượt mốc 10 kg. Trẻ trên 20 kg tính 1.000 Kcal cộng thêm 20 Kcal cho mỗi kg vượt mốc 20 kg.
Nếu tính theo tuổi, công thức xác định năng lượng mỗi ngày bằng 1.000 Kcal cộng với 100 nhân cho số tuổi của trẻ. Riêng trẻ từ 5 tuổi trở lên chậm tăng trưởng, phụ huynh nên chủ động điều chỉnh tăng thêm từ 200 đến 500 Kcal mỗi ngày tùy theo sức ăn.
Về cơ cấu dinh dưỡng, bác sĩ Hương lưu ý thực đơn phải duy trì sự cân bằng giữa bột đường, đạm và chất béo. Nhóm trẻ từ 0 đến 5 tháng tuổi cần lượng chất béo cao nhất trong khẩu phần với 40 đến 60%.
Giai đoạn 6 đến 24 tháng tuổi, chất bột đường chiếm 40 đến 57%, chất đạm chiếm 13 đến 20% và chất béo giữ mức 30 đến 40%. Từ 3 tuổi trở lên, tỷ lệ chất bột đường tăng dần lên mức 45 đến 67% trong khi chất béo giảm còn 20 đến 35% tùy độ tuổi.
Bên cạnh đó, lịch ăn cần chuyển đổi linh hoạt theo sức nhai của trẻ. Trẻ 0 đến 6 tháng bú sữa mẹ hoàn toàn hoặc uống sữa công thức tính theo công thức lấy cân nặng nhân 150 ml. Trẻ 7 đến 12 tháng ăn 1 đến 3 bữa bột hoặc cháo dung tích 150 đến 200 ml mỗi bữa.
Trẻ 13 đến 24 tháng ăn 2 đến 3 bữa cháo đặc từ 200 ml trở lên, kết hợp 500 đến 800 ml sữa mỗi ngày. Khi trên 24 tháng tuổi, trẻ chuyển sang 3 bữa cơm chính đủ bốn nhóm chất và bổ sung thêm 400 đến 600 ml sữa mỗi ngày.
Khi tự nấu một chén ăn dặm 200 ml tại nhà, bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Ngọc Hương đặc biệt dặn dò phụ huynh cần đong đúng nguyên liệu để bảo đảm độ đậm năng lượng. Một chén bột hoặc cháo đạt chuẩn cung cấp từ 140 đến 250 Kcal cần có từ 20 đến 30g gạo hoặc bột, 20 đến 30g thịt cá, 20 đến 25g rau củ và 5 đến 10g dầu ăn. Ngoài các bữa chính, năng lượng từ các bữa ăn phụ cũng nên đóng góp khoảng 5 đến 15% tổng nhu cầu khẩu phần trong ngày để giúp trẻ phát triển toàn diện.




























