Chuyện một người xứ Nẫu vượt ngục Phú Quốc
Ðồng chí Võ Cường - người con của đất Bình Ðịnh (nay là tỉnh Gia Lai), nguyên Bí thư Huyện ủy Phù Cát - là cán bộ cách mạng từng trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Bị địch bắt năm 1966 và đày ra Nhà tù Phú Quốc. Giữa nơi được xem là “địa ngục giữa trần gian” ấy, ông vẫn giữ vững khí tiết, tổ chức đấu tranh và trực tiếp lãnh đạo cuộc đào hầm vượt ngục táo bạo, gây chấn động lịch sử Nhà tù Phú Quốc thời bấy giờ.

Chân dung đồng chí Võ Cường. Ảnh: GĐCC
1. Ông Võ Cường (1927-2005) tham gia cách mạng từ năm 1945, từng đảm nhiệm nhiều công việc ở cơ sở như giáo viên bình dân học vụ, Tổ trưởng Tổ quân báo, Trưởng đoàn Thanh niên cứu quốc…
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc; đến năm 1961 lại vượt Trường Sơn trở về miền Nam, lần lượt giữ các cương vị quan trọng như: Chánh Văn phòng Huyện ủy Phù Cát, Quyền Bí thư Huyện ủy Phù Cát, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Bình Định...
Năm 1966, ông được giao giữ cương vị Bí thư Huyện ủy Phù Cát, lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.
Trong cuốn sách Bình Định những năm tháng chiến tranh (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005) của nhà báo Thu Hoài, đồng chí Võ Cường được đề cập với dung lượng khá lớn. Ông là người có công lớn trong dẫn dắt nhiều cuộc đấu tranh, hoạt động ở Phù Cát, mặt trận Núi Bà. Sau đó, tháng 12-1966, ông bị địch bắt, tra tấn, đưa lên ngục Pleiku, rồi đày ra Nhà tù Phú Quốc vào đầu tháng 8-1967.
Trong sách, nhà báo Thu Hoài ghi lại hình ảnh người chiến sĩ cách mạng tự tin, ung dung, vững vàng trước thử thách - “Đoàn tù nhân lũ lượt bước lên bờ. Gió mỗi lúc mỗi mạnh. Võ Cường cố hít thở luồng không khí trong lành của biển.
Ngày trước đứng trên núi Bà, hay đi men theo Tân Thanh ra Cát Khánh, bước chân anh trên mép biển thật tuyệt vời. Biển cứ rì rào, rì rào đều đặn như một cung đàn muôn thuở của thiên nhiên. Đêm nay gặp lại biển Phương Nam, lòng Võ Cường tràn đầy cảm xúc…”.
2. Nhà tù Phú Quốc khi ấy được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. Không ít người đã ngã xuống, nhưng cũng chính nơi tận cùng ấy, ý chí của người chiến sĩ cách mạng được tôi luyện trong khắc nghiệt.
Trong 42 vụ vượt ngục ở Phú Quốc, chỉ có 4 vụ đào hầm và cuộc đào hầm tại phân khu B2 là một trong những cuộc vượt ngục táo bạo, quy mô và thành công nhất do Võ Cường (tức Sáu Cường), người con Bình Định, trực tiếp chỉ đạo.

Hầm vượt ngục của 21 tù binh tại Phú Quốc. Ảnh tư liệu
Biệt giam B2 được xem là nơi “bất khả xâm phạm”. Nhưng chính tại đây, Đảng ủy phân khu đã thông qua kế hoạch đào hầm vượt ngục với một quyết tâm sắt đá. Địa điểm được chọn là phòng 13. Lực lượng đào hầm ban đầu gồm 17 người.
Ngày khui miệng hầm là 19-8-1968, kỷ niệm Cách mạng tháng Tám. Ấn định ngày mở nắp hầm vượt ngục là 3-2-1969, ngày thành lập Đảng. Hầm dự kiến đào trong 6 tháng, dài hơn 120 m, đủ cho anh em thoát ra ngoài. Đào hầm trong Nhà tù Phú Quốc là một cuộc đấu trí kéo dài từng ngày, từng giờ.
Không cuốc xẻng, những tù binh dùng ca US, cà mèn đào đất, giấu trong can nhựa; quần áo xé làm dây kéo đất lên. Võ Cường thuật lại cách đào hầm hiệu quả: “Anh em rút kinh nghiệm ngoài đời khi ta đào trụ nọc rơm hay đào huyệt mả, đào xong lấp lại bao giờ cũng thiếu. Từ đó anh em đào sâu hơn làm cho đất tơi, xốp rồi ém xuống và cứ như thế đào đến đâu ém hết đến đó”.
Địch liên tục xáo trộn, lục soát, chỉ một sơ suất là trả giá bằng mạng sống. Trong căng thẳng ấy, Võ Cường luôn giữ được sự điềm tĩnh của người chỉ huy, tổ chức chặt chẽ từng khâu. Phải vượt ngục trước dự kiến, đêm 20-1-1969, từ 7 giờ tối, nắp hầm được mở.
Trong bóng tối đặc quánh, từng người một lần lượt chui xuống lòng đất, bò trong đường hầm chật hẹp, ẩm ướt, tối đen như mực. Đến rạng sáng 21-1, 21 anh em đầu tiên đã ra được bên ngoài hàng rào, sau đó tìm được cơ sở cách mạng. Cuộc vượt ngục kết thúc trọn vẹn trong niềm vui vỡ òa.
Đảng bộ huyện Phú Quốc đón các tù binh vượt ngục như những người con anh hùng đi xa trở về. Nhiều người lập tức được bổ sung vào LLVT địa phương, du kích các xã, tăng cường sức chiến đấu cho huyện đảo.
Riêng Võ Cường, với uy tín và năng lực của mình, được cử làm Phó Ban Thường trực Ban Đón tiếp tù binh vượt ngục của huyện Phú Quốc, tiếp tục một mặt trận mới.
3. Nhiều năm sau, tại cuộc hội thảo tổ chức ở Phú Quốc năm 1995, những người từng đào hầm vượt ngục năm xưa mới có dịp gặp lại nhau. Họ gọi tên từng đồng đội, nhắc lại từng gương mặt đã cùng sống chết trong lòng đất tối.
Những ký ức ấy được ghi chép cẩn trọng trong cuốn Trại giam tù binh Phú Quốc thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2014).
Theo đó, tại hội thảo ngày 28-3-1995, danh sách 21 anh em tham gia cuộc vượt ngục lịch sử được xác nhận rõ ràng: “Chỉ đạo đào hầm, Sáu Cường (Bình Định); Hai Huyên (Thừa Thiên), Hai Quang (Quảng Ngãi) và Hòa. Nòng cốt đào hầm: Cát (Nghệ An); Kim (Hòa Bình); Hà Long (Hà Tây); Năm Lòng (Đồng Nai); Hóa (Nghệ An); Hạnh; Hán; Châu (Bình Dương); Phán (Quảng Bình); Thành; Hải (Thanh Hóa); Thống (Thừa Thiên); Thuần (Thừa Thiên); Đại (Thái Nguyên); Việt Anh (Hà Tĩnh); Hoa (Hải Dương); Thanh (Thanh Hóa)”.

Một góc Phú Quốc hôm nay. Ảnh tư liệu
Nhắc đến cuộc vượt ngục năm xưa, Thượng sĩ nhất Trần Văn Nhu - một giám thị khét tiếng ở bên kia chiến tuyến của Nhà tù Phú Quốc - thẳng thắn thừa nhận: “Khi chiến tranh leo thang, số tù binh tăng vọt, các biệt khu giam giữ cũng được mở rộng.
Các khu giam bố trí thêm thép gai bùng nhùng vòng trong, vòng ngoài từ 3-5 lớp, được gài trái sáng, người vượt ngục khó trốn thoát. Khu vực ngoài bờ rào được gài nhiều lớp mìn các loại: Mìn Claymore, mìn cóc, mìn râu tôm...
Ban đêm, hệ thống đèn pha rực sáng, quét liên tục mọi ngóc ngách. Các khu giam còn được trang bị cả ống nhòm hồng ngoại tuyến quan sát về đêm. Tăng cường chặt chẽ vậy mà mấy ông tù binh vẫn vượt ngục bằng cách đào hầm...
Tài nhất là vụ đào hầm ở phân khu B2, nơi tôi quản lý vào đêm 20-1-1969. Mấy người tù tổ chức đào đường hầm ở phòng 13 và 14, dài 120 m và thoát được 21 người. Ban Chỉ huy, giám thị không hiểu bằng cách nào các tù binh đào hầm một cách tài tình và bí mật trong thời gian dài”.
Đến nay, giữa khu di tích Nhà tù Phú Quốc, dấu tích đường hầm vượt ngục năm xưa vẫn còn, như một biểu tượng của ý chí tự do, trí tuệ và lòng dũng cảm của người cộng sản. Trong biểu tượng ấy có bóng dáng Võ Cường, người con của đất Bình Định.
Trong hồi ký và các tham luận về cựu tù binh Phú Quốc, ông từng bộc bạch: Không nỗi gian khổ, tủi nhục nào lớn hơn cảnh người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nhưng cũng không có sức mạnh nào sánh bằng lòng yêu nước, tinh thần căm thù giặc và ý chí bảo toàn nhân phẩm. Với ông, giữ gìn đạo đức, nhân phẩm chính là lẽ sống vô giá. Võ Cường là tấm gương cho con cháu noi theo.
Người con trai, anh Võ Đình Kha, nâng niu từng kỷ vật, từng trang lưu bút cha để lại. Khi nhắc về cha mình, anh bồi hồi xúc động: “Cha tôi là người rất nghiêm khắc, mực thước và chỉn chu.
Ông hay viết nhật ký, hồi ký để ghi lại những dấu ấn cuộc đời mình, trong đó có những năm tháng mà ông và đồng đội cùng kề vai sát cánh. Chính ông đã dạy cho chúng tôi phải biết sống trung thực, tự trọng và biết hy sinh, cống hiến”.
Sau cuộc vượt ngục, Võ Cường tiếp tục hoạt động cách mạng ở Phú Quốc; đến năm 1972, ông được điều về Phù Cát giữ cương vị Bí thư Huyện ủy cho đến ngày giải phóng miền Nam. Trên nhiều cương vị công tác sau đó, ông vẫn trọn vẹn tận tâm với quê hương, đất nước.
Với nhiều cống hiến cho cách mạng, đồng chí Võ Cường được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Giải phóng hạng nhất, Huân chương Quyết thắng hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhì...
































