Chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp

Ứng dụng chuyển đổi số vào sản xuất nông nghiệp giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, minh bạch nguồn gốc, tăng sức cạnh tranh nông sản và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Hợp tác xã chè Hảo Đạt (Thái Nguyên) đang ứng dụng chuyển đổi số vào một số công đoạn sản xuất giúp nâng cao hiệu quả. (Ảnh: NGUYÊN PHÚC)

Hợp tác xã chè Hảo Đạt (Thái Nguyên) đang ứng dụng chuyển đổi số vào một số công đoạn sản xuất giúp nâng cao hiệu quả. (Ảnh: NGUYÊN PHÚC)

Tuy nhiên, công tác này còn gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn thực hiện lớn, hạ tầng viễn thông một số nơi chưa ổn định, trình độ sử dụng công nghệ hạn chế…

Tối ưu hóa quy trình sản xuất

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng Lương Thị Kiểm cho biết, nhiều diện tích sản xuất nông nghiệp ở thành phố áp dụng chuyển đổi số vào kiểm soát độ ẩm, nhiệt độ, cung cấp thức ăn, bón phân, phun thuốc bảo vệ thực vật bằng thiết bị bay không người lái (drone)… Đến nay, khoảng 80% số trang trại, gia trại chăn nuôi, 20% diện tích trồng trọt, khoảng 90% số lồng bè nuôi trồng thủy sản áp dụng chuyển đổi số. Qua đó giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, minh bạch thông tin, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm công lao động từ 30 đến 50%.

Giữa tháng 8, nắng nóng gay gắt nhưng bên trong trang trại chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tại Hợp tác xã Sản xuất, kinh doanh và Dịch vụ chăn nuôi Duy Nhất xã Tiên Minh (Hải Phòng), nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng vẫn được kiểm soát. Giám đốc Hợp tác xã Lê Quang Vình cho biết: “Năm 2023, hợp tác xã được Ban Quản lý rừng và Khuyến nông thành phố hỗ trợ tủ điều khiển giám sát các thiết bị trang trại giúp kiểm soát các yếu tố môi trường chuồng nuôi như: Nhiệt độ, độ ẩm, không khí phù hợp từng giai đoạn sinh trưởng của đàn gà.

Các thiết bị này được theo dõi, kiểm soát và điều chỉnh thông qua điện thoại thông minh, giúp người chăn nuôi kịp thời phát hiện, xử lý những biến động bất lợi của môi trường chuồng nuôi. Áp dụng phương pháp này giúp giảm công lao động, lượng điện tiêu thụ, sử dụng nguồn lực đầu vào hợp lý hơn, tạo điều kiện để hợp tác xã tăng đàn gấp 10 lần, từ 5.000 con lên 50.000 con gà đẻ, cung ứng ra thị trường hơn 13 triệu quả trứng/năm”.

Những năm gần đây, nông nghiệp công nghệ cao được triển khai, nhân rộng ở Thái Nguyên nhằm từng bước hình thành nền nông nghiệp số trong sản xuất, giúp tăng năng suất cây trồng từ 15 đến 25%, giảm chi phí 10 đến 20%. Đơn cử, mô hình thí điểm công nghệ số cho sản phẩm chè ứng dụng VNPT Green giúp các hợp tác xã, doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình quản trị.

Theo Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Môi trường tỉnh Thái Nguyên Lê Tiến Dũng: “Điểm nổi bật của mô hình là khả năng kết nối dữ liệu liên thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API). Thông qua đó, hệ thống lưu trữ 149 mã số vùng trồng và tích hợp đồng bộ dữ liệu giám sát sinh vật gây hại, nguồn vật tư đầu vào. Nhờ đó, cơ quan chuyên môn dự báo dịch hại, điều hành sản xuất theo thời gian thực và người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Ngoài ra, ở các đồi chè sử dụng hệ thống tưới nước tự động, cảm biến đo độ ẩm, pH và nhiệt độ dưới đất. Khi độ ẩm xuống dưới ngưỡng, máy bơm tự động kích hoạt hệ thống bơm sương giúp tiết kiệm 30 đến 40% lượng nước. Hệ thống chatbot AI được sử dụng hỗ trợ giải đáp các đơn hàng, giới thiệu sản phẩm cho khách hàng góp phần nâng cao hiệu quả bán hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ. Đến nay, mô hình đã hoàn thành số hóa, hướng dẫn sử dụng ứng dụng VNPT Green cho 45 tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè”.

Phát triển hạ tầng công nghệ số

Phó Trưởng phòng Công nghệ số, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Vũ Ngọc Tuấn cho biết, ngành nông nghiệp hiện nay đang đối mặt nhiều thách thức như: Hạn hán, xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan, chi phí đầu vào tăng và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn phát thải các-bon; phương thức sản xuất dựa trên kinh nghiệm và sử dụng lao động giá rẻ, tài nguyên tự nhiên không còn đủ sức cạnh tranh. Vì vậy, chuyển đổi số sẽ mở ra phương thức sản xuất mới hướng đến nông nghiệp chính xác, nông nghiệp thông minh.

Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, có khoảng 9,15% số hộ trồng trọt ứng dụng các công nghệ như: Kết nối vạn vật, robot và tự động hóa; 0,7% hộ nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ tuần hoàn, khép kín, công nghệ kết nối vạn vật, cảm biến… Mặc dù vậy, số hóa ngành nông nghiệp hiện nay còn những điểm nghẽn như dữ liệu nông nghiệp, môi trường có tính biến động liên tục theo thời gian thực và phân tán rải rác ở hàng chục triệu hộ dân, doanh nghiệp; kỹ năng số của phần lớn nông dân còn hạn chế; việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất có chi phí ban đầu lớn.

Giám đốc Hợp tác xã Yến Dương (Thái Nguyên) Ma Thị Ninh cho biết: “Hiện nay, hợp tác xã áp dụng phần mềm quản lý sản xuất nông nghiệp giúp theo dõi các khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, phân phối và cung cấp thông tin minh bạch giúp tăng năng suất, giảm chi phí vận hành, doanh thu tăng từ 10 đến 20%. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số còn ít, chưa theo kịp xu hướng phát triển; thiếu trang thiết bị điện tử có kết nối Internet; phần lớn lao động lớn tuổi cho nên khó tiếp cận và thực hiện thành thạo điện thoại thông minh, máy tính cũng như ứng dụng thương mại điện tử. Mặt khác, chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho hợp tác xã còn ít, chủ yếu mang tính lồng ghép, thiếu đồng bộ và trọng tâm”.

Chiến lược Chuyển đổi số ngành nông nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng kinh tế số nông nghiệp đóng góp ít nhất 10% vào GDP của ngành; phần lớn các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ internet vạn vật ở mức độ nâng cao; thiết lập các mô hình ứng dụng trợ lý ảo, bản sao số để dự báo và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Đồng thời phấn đấu 70% số xã có hợp tác xã ứng dụng công nghệ số vào vận hành và sản xuất; hơn 80% số nông dân có khả năng truy cập, kỹ năng số để sử dụng hiệu quả các nền tảng công nghệ.

Để đạt được những mục tiêu này, các chuyên gia nông nghiệp cho rằng, thời gian tới cần từng bước chuyển dịch từ đầu tư hạ tầng vật lý truyền thống sang áp dụng nguyên tắc ưu tiên điện toán đám mây, hướng tới trung tâm dữ liệu ngành hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh; khuyến khích các tập đoàn công nghệ lớn đầu tư phát triển hệ sinh thái nông nghiệp thông minh; biên soạn các tài liệu trực quan, dễ hiểu để cán bộ khuyến nông cơ sở đào tạo trực tiếp cho người nông dân kỹ năng truy cập nền tảng số, sử dụng thương mại điện tử, tiếp cận internet vạn vật cơ bản. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực số cho lực lượng lao động nông thôn thông qua chuyển giao kỹ thuật trực tiếp tại thực địa…

NGUYÊN PHÚC

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/chuyen-doi-so-trong-san-xuat-nong-nghiep-post982953.html