Chuyện dân gian bên dòng sông Lèn huyền thoại
Dòng sông Lèn (một nhánh hạ lưu của con sông Mã) bao đời cần mẫn chở nặng phù sa màu mỡ, dòng nước ngọt tưới mát làm nên những mùa vàng bội thu, đem lại no ấm cho cư dân đôi bờ.
Cây cầu Đò Lèn sừng sững bắc qua dòng sông, xây dựng cách đây trên một thế kỷ, là địa phận giữa huyện Hà Trung và huyện Hậu Lộc (cũ), nối liền hệ thống giao thông huyết mạch Bắc - Nam. Còn đó bên dòng sông Lèn những câu chuyện, giai thoại, huyền tích dân gian mà tạo hóa ưu ái ban tặng, cùng với sự bền bỉ lao động sáng tạo qua bao thế hệ tiền nhân đã dệt nên bức tranh di sản sống động ngày nay trên đất Hà Trung.
Hạ lưu sông Lèn xuôi về biển - địa phận giáp ranh Hà Trung, Hậu Lộc (cũ), tỉnh Thanh Hóa
Những câu chuyện dân gian bên dòng sông Lèn huyền thoại bắt đầu từ Đền Chầu Đệ Tứ hay Đền Trình, ở thôn Kim Đề, xã Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ngôi đền nằm sát bờ sông Lèn, tựa lưng vào núi Chung Chinh, vươn mình soi bóng xuống dòng sông Lèn, nơi lưu giữ trầm tích về "Hò sông Mã" xứ Thanh. Đền Chầu Đệ Tứ còn được gọi là Đền Cây Thị. Thời gian cứ trôi, nhưng sự tích về Đền Cây Thị còn mãi.
Chuyện rằng: xưa có người lính nghĩa quân của Bà Triệu (226 - 248). Tên bà là Triệu Thị Trinh, ở quận Cửu Chân, tỉnh Thanh Hóa, có công đánh đuổi giặc Ngô giữ yên bờ cõi... Chàng trai đem lòng yêu say đắm một người con gái nhưng bận việc quân nên ít về thăm nhà gặp người yêu. Cô gái đêm ngày mòn mỏi ngóng trông. Một ngày kia, người lính đánh giặc thắng trận được Bà Triệu thưởng phép về thăm gia đình, người yêu. Khắc khoải chờ chàng trai trở về, người con gái đã hóa thân thành Cây Thị và chỉ ra có một quả. Người qua đường vin cành nhưng không tài nào hái được quả thị. Khi chàng trai vừa vin cành, lập tức quả thị rơi vào ống tay chàng... Câu chuyện về Đền Cây Thị như một huyền tích đã thấu tới trời xanh và con tim mỗi người. Sau này, ngôi đền được lập chỗ cây thị để thờ phụng, gọi là Đền Cây Thị.
Cùng dãy núi Chung Chinh, xã Hà Trung, ngước nhìn lên đỉnh núi, một khối đá xanh tự nhiên hơi ngả về phía sau, tựa một cái chum cổ đựng nước. Giải mã sự tích "Núi Chum Vàng", người dân kể lại: gia đình nào sinh được 10 người con trai sẽ đưa được chiếc chum vàng xuống núi. Có gia đình nọ sinh được 9 người con trai. Để đủ 10 người, đã xin một người con trai về nuôi. Khi các con đã lớn, lên núi để đưa chiếc chum xuống nhưng phải đi theo hướng Nam. Lúc đó, chum đang nghiêng về phía người con nuôi. Chợt có tiếng hô của người bố: “Nuôi ơi, con hãy cố lên!”. Lập tức chiếc chum vàng biến thành khối đá xanh. Ngày nay, khối đá hình cái chum vẫn đang nghiêng về phía Nam. Đã có người hiếu kỳ trèo lên đỉnh núi tìm cách cậy nắp chum nhưng không được. Sự tích về "Núi Chum Vàng" trên đỉnh núi Chung Chinh đến nay vẫn còn là một bí ẩn…

Đền Chầu Đệ Tứ (Đền Trình - Đền Cây Thị) soi bóng xuống dòng sông Lèn huyền thoại
Còn ở Đền Hàn, câu nói: “Tháng sáu hội gai” (tức trảy hội Đền Hàn) bắt đầu từ đầu tháng 6 đến ngày 12/6 âm lịch, còn lưu truyền mãi. Khu di tích Hàn Sơn hoành tráng tọa lạc trên sườn núi Chúa Ngự, thuộc làng Chí Phúc, lung linh soi bóng xuống dòng sông Lèn. Giải mã tên gọi dân gian về “Đền Hàn”, sách chép: vào mùa mưa, dòng nước lũ hung dữ từ sông Mã, sông Chu và các nơi đổ về, gần khúc ngoặt gặp vật cản đáy sông tạo thành vực xoáy tung bọt trắng xóa nên gọi là Hàn (thác). Có lẽ tên Đền Hàn có từ đó.
Được biết, khi Sùng Quốc công Lê Thọ Vực mới mất, đền thờ ông đặt ở khu vực Đền Cô Bơ - Ba Bông bây giờ. Sau đó, đền được đặt ở sườn núi Chúa Ngự hiện nay với cái tên đầy sự tôn kính: Đền Đức Ông. Liên quan đến lịch sử đánh giặc giữ nước, dọc theo các dãy núi bên dòng sông Lèn đã ghi lại nhiều trận chiến mai phục của quân đội nhà Lê - Trịnh đánh bại nhà Mạc hồi thế kỷ XVI.
Ngã Ba Bông - nơi hợp lưu của 3 dòng sông Mã
Ngược lên dòng sông, Đền Cô Bơ ở thôn Cẩm Cường nổi bật giữa khung cảnh thiên nhiên mênh mang, núi sông trùng điệp. Trong không gian linh thiêng huyền ảo của ngôi đền, ánh sáng chuyển động lung linh rực rỡ sắc màu khi màn đêm buông xuống. Mẫu Đệ Tam gọi là Mẫu Thoải cai quản sông nước nên gọi là Đệ Tam Thoải Phủ. Mỗi khi đất nước có họa xâm lăng, Mẹ Nước góp phần giúp giang sơn thoát khỏi họa binh đao, khiến cho mưa gió thuận hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm. Mẫu Thoải là hình ảnh của người mẹ hiền, đảm đang, đức độ…
Điều đặc biệt là, khu vực Ngã Ba Bông vốn là tụ điểm thuyền bè nhộn nhịp giữa miền ngược với miền xuôi giao thương hàng hóa. Khi những con thuyền chở hàng đầy ắp gặp phải trắc trở, sóng to gió lớn, lên thác xuống ghềnh… Mẹ Nước hiển linh giúp mọi người thoát khỏi hiểm nguy, đem lại sự may mắn, bình an.
Đã từ lâu, người dân nơi đây sử dụng những con thuyền nan, thuyền gỗ - gọi là đò dọc - chuyên chở hàng hóa từ miền xuôi lên thôn bản vùng cao như tằm tơ, lụa là, lúa gạo, muối mắm, rồi khi trở về lại mang theo sản vật vùng rừng núi để phục vụ cho người miền xuôi. Ngoài ra, con đò dọc còn chở khách đi xa, về gần, tìm đất mưu sinh hay thăm hỏi người thân, bạn bè... Trong mênh mang sông nước, hoa lá cỏ cây, những khoảnh khắc lãng mạn bất chợt xâm chiếm tâm hồn người lái đò trong hành trình mưu sinh “đi ngược về xuôi” đã khơi dậy cảm xúc, khiến họ cao hứng cất lên giọng hò mộc mạc: “Trên Ba Bông, dưới thác, giữa Hàn/ Mình em phận gái biết làm sao đây”.

Núi Chum Vàng chót vót trên đỉnh núi Chung Chinh - nơi gắn với hội Đền Hàn từ ngày 6 - 12 tháng 6 âm lịch hằng năm
Câu hò gợi mở địa danh, vị trí Đền Cô Bơ - nơi có ba dòng sông lớn: sông Mã, sông Chu, sông Lèn gặp nhau. Từ đây hình thành nên giai thoại dân gian “nơi tiếng gà gáy, cả năm huyện đều nghe” – nơi này là điểm giáp ranh của 5 huyện (cũ): Hà Trung, Vĩnh Lộc, Hoằng Hóa, Yên Định, Hậu Lộc.
Trên những chuyến đò dọc sông Lèn năm xưa, tiếng hò cất lên cũng mang âm hưởng đặc trưng của “Hò sông Mã” xứ Thanh đặc sắc – với giai điệu, tiết tấu, nhịp điệu khỏe khoắn, vui tươi: “Dô khoan… dô huầy. Ê dô khoan ta dô khoan… Huầy dô…”. Tuy nhiên, trình tự, tên gọi, cách thể hiện các làn điệu, vũ điệu có sắc thái riêng biệt. Trước tiên là: Hò Ra đò (giới thiệu về con đò). Hò Rời bến (khi con đò rời bến). Hò Đò xuôi (khi đò xuôi dòng). Hò Lên thác xuống ghềnh (khi đò vượt thác). Hò Làn văn (khi đò qua đền, phủ). Hò Sắp đến bờ, Hò Cặp bến (khi con đò cặp bến)...
“Hò sông Mã” xứ Thanh nói chung và “Hò sông Mã” ở huyện Hà Trung (cũ) nói riêng không chỉ là di sản dân gian quý báu mà còn là biểu tượng lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh đặc biệt.
“Hò sông Mã” xứ Thanh nói chung, “Hò sông Mã” ở Hà Trung nói riêng vì thế trở thành âm thanh đặc trưng vang vọng giữa sóng nước, bắt đầu từ cầu Hàm Rồng ngược dòng sông Mã lên Đền Hàn Sơn - Ba Bông rồi xuôi về Đò Lèn đổ ra biển cả... Chuyện kể về dòng sông Lèn huyền thoại là dòng chảy văn hóa tiếp biến từ đời này qua đời khác trên vùng đất Hà Trung, nơi cửa ngõ phía Bắc xứ Thanh anh hùng.