Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa: Góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa toàn quốc và theo các vùng kinh tế - xã hội ở các mức độ và nguyên nhân; tăng mật độ các trạm khí tượng thủy văn phục vụ công tác theo dõi, giám sát và dự báo, cảnh báo sớm.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng vừa ký Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT ban hành Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đó, Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 thể hiện trách nhiệm của Việt Nam và nỗ lực của quốc gia chung tay hiện thực hóa các mục tiêu Công ước chống sa mạc hóa của Liên hợp quốc (Công ước) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Phòng, chống sa mạc hóa là nhiệm vụ trọng điểm, góp phần bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, quản lý bền vững tài nguyên rừng, nguồn nước và đất đai, từng bước ổn định, nâng cao đời sống và thu nhập của người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết vững chắc nhiệm vụ định canh định cư, kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu phòng, chống sa mạc hóa của Chương trình với các chiến lược quốc gia, của ngành và địa phương với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc.

Vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long sẽ triển khai ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị mặn hóa và phèn hóa.
Chương trình hướng tới việc triển khai chủ động, đồng bộ và hiệu quả công tác phòng, chống sa mạc hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia, bộ, ngành và địa phương, đồng thời khẳng định các cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước chống sa mạc hóa của Liên Hợp quốc và các cam kết quốc tế có liên quan.
Mục tiêu đến năm 2030 khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa toàn quốc và theo các vùng kinh tế - xã hội ở các mức độ và nguyên nhân; tăng mật độ các trạm khí tượng thủy văn phục vụ công tác theo dõi, giám sát và dự báo, cảnh báo sớm.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch các khu vực sa mạc hóa theo hướng thích ứng và giảm thiểu tác động của khô hạn và thoái hóa đất thông qua sử dụng bền vững đất đai, giữ ổn định 3,5 triệu ha đất trồng lúa; sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước; bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42-43%, nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, năng suất và hiệu quả rừng trồng và các hệ thống nông lâm kết hợp để giảm thiểu lượng bốc hơi tiềm năng vào mùa khô; bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước.
Về dài hạn, đến năm 2050, tổng diện tích đất bị thoái hóa không vượt quá 40% tổng diện tích đất tự nhiên toàn quốc (trong đó diện tích đất bị thoái hóa nặng - có nguy cơ sa mạc hóa cao - không vượt quá 4,5%) thông qua phục hồi một phần diện tích đất bị thoái hóa nhẹ, trung bình và ngăn ngừa sự gia tăng đất thoái hóa nặng. Thu nhập bình quân của người dân sống tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa không thấp hơn 50% mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước.
Về phạm vi thực hiện, Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa được triển khai trên phạm vi các vùng đất nông – lâm nghiệp bị sa mạc hóa trên cả nước, trong đó ưu tiên khắc phục các loại hình thoái hóa đất điển hình ở các vùng như sau:
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị xói mòn, rửa trôi và cải thiện độ phì nhiêu của đất. Vùng Bắc Trung Bộ: Ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị suy giảm độ phì và đất bị khô hạn như phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị suy giảm độ phì và đất bị khô hạn. Vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long: Ưu tiên các giải pháp hạn chế và phục hồi đất bị mặn hóa và phèn hóa.
Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 xác định khung giải pháp tổng thể với 4 trụ cột: Khoa học, công nghệ và dữ liệu; canh tác thông minh và phục hồi đất; nâng cao năng lực và truyền thông; chính sách và hợp tác quốc tế. Đồng thời, theo đặc thù thoái hóa đất của từng vùng, chương trình cũng xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên.
Về tổ chức thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thường trực giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Chương trình, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Chương trình; định kỳ hàng năm hoặc đột xuất (khi có yêu cầu) báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện Chương trình, sơ kết (10 năm) và tổng kết thực hiện Chương trình.
Bộ Tài chính căn cứ đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ có liên quan, tổng hợp, cân đối bố trí nguồn kinh phí ngân sách trung ương hằng năm thực hiện Chương trình theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn có liên quan, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
UBND các tỉnh, TP chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai Chương trình theo nhiệm vụ được giao chủ trì hoặc phối hợp tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định và theo chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi quản lý nhà nước được giao. Định kỳ hàng năm, hoặc đột xuất (khi có yêu cầu) báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kết quả thực hiện Chương trình.



























