Chung tay giữ rừng từ mỗi bản làng
Ở nhiều bản làng của Thanh Hóa, giữ rừng đang trở thành việc chung của cộng đồng. Từ những chuyến tuần tra, các quy ước về bảo vệ rừng đến việc chủ động kiểm soát nguồn lửa, người dân đang góp sức giữ những cánh rừng gắn với sinh kế và môi trường sống của chính mình.

Màu xanh của rừng ở thôn Cao Nguyên, xã Ngọc Lặc.
Khi giữ rừng trở thành "nếp" bản làng
Với những người sống bên rừng, giữ rừng bắt đầu từ những việc rất cụ thể: cùng lực lượng chức năng tuần tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện những nguy cơ xâm hại và cháy rừng.
Tổ bảo vệ rừng (BVR) thôn Lửa, xã Yên Nhân được thành lập năm 2015 với 12 thành viên. Tổ có trách nhiệm cùng với lực lượng chức năng tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng khu vực rừng giáp ranh xã Yên Nhân, tỉnh Thanh Hóa với xã Thông Thụ, tỉnh Nghệ An.
Theo anh Chảo Văn Khơi, thành viên Tổ BVR, trung bình một tháng mỗi thành viên sẽ đi tuần tra rừng từ 10-12 ngày. Mỗi lần đi, các anh thường đi từ sáng sớm, có khi tối muộn mới trở về, vào những khu rừng sâu còn giàu tài nguyên để kiểm tra, bảo vệ, nhằm sớm phát hiện bất thường hoặc các hành vi xâm hại vào rừng...
Tôi là thành viên trong tổ bảo vệ rừng. Không chỉ có trách nhiệm tuần tra mà quan trọng khi về đến thôn xóm, chúng tôi có trách nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn bà con cùng giữ gìn, bảo vệ rừng, bảo vệ màu xanh và môi trường sống.
Anh Chảo Văn Khơi, thành viên Tổ bảo vệ rừng Thôn Lửa
Từ những người trực tiếp bám rừng, trách nhiệm ấy được truyền về từng gia đình, từng thôn bản. Ở nhiều nơi, việc bảo vệ rừng còn được cụ thể hóa bằng những quy ước chung của cộng đồng.

Tổ bảo vệ rừng thôn Lửa cùng lực lượng kiểm lâm tuần tra rừng.
Tại bản Đông Ban, xã Pù Nhi, tổ BVR có 5 thành viên, đại diện cho các lực lượng: Mặt trận, phụ nữ, đoàn thanh niên, trưởng thôn và dân quân tự vệ. Việc bảo vệ rừng được đưa vào hương ước, quy ước của bản.
Theo đó, người không có phận sự không được tự ý vào rừng. Những hộ muốn vệ sinh nương rẫy, đốt vật liệu cháy phải báo với bản và chỉ được đốt trước 9 giờ sáng. Những quy định ấy được người dân duy trì thành nếp, góp phần kiểm soát người ra vào rừng, hạn chế nguy cơ xâm hại và chủ động phòng cháy từ cơ sở.
Rừng nuôi người, người giữ rừng
Ở thôn Cao Nguyên, xã Ngọc Lặc, hơn 500 ha rừng sản xuất đang trở thành nguồn sinh kế quan trọng của người dân. Ở đây, gia đình nào cũng có rừng, hộ ít khoảng 2 ha, hộ nhiều hơn 10 ha.
Gia đình ông Phạm Ngọc Kỷ có gần 15 ha keo và bạch đàn. Khoảng 4-5 năm, rừng đến kỳ khai thác, bình quân mỗi ha cho thu nhập khoảng 50-60 triệu đồng. Với gia đình ông, rừng đã trở thành nguồn kinh tế chính.
Ông Kỷ chia sẻ: “Rừng mang lại nguồn thu nhập lớn nên gia đình tôi rất chú trọng chăm sóc và bảo vệ. Trồng rừng thì phải giữ được rừng, có như vậy mới có nguồn thu lâu dài”.

Ông Phạm Ngọc Kỷ cùng lực lượng kiểm lâm đi kiểm tra rừng.
Từ hiệu quả kinh tế, cách làm nghề rừng ở thôn Cao Nguyên cũng đang thay đổi. Gia đình ông Phạm Xuân Điều có 2 ha rừng. Sau khi tham quan mô hình trồng rừng gỗ lớn theo tiêu chuẩn FSC, ông dự định vận động bà con cùng tham gia, hướng tới nâng giá trị trên chính diện tích rừng của mình.
Tại thôn Vịn, xã Bát Mọt, người dân được hưởng lợi trực tiếp từ những cánh rừng thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo báo cáo của Ban Quản lý Quỹ Bảo vệ, Phát triển rừng và Phòng, chống thiên tai, mỗi năm thôn được chi trả gần 700 triệu đồng. Một phần nguồn kinh phí được trích để chi trả cho tổ bảo vệ rừng, phần còn lại phục vụ các hoạt động chung của thôn.

Người dân liên kết để bảo vệ và phát triển rừng.
Thanh Hóa có gần 648 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm trên 53% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Với diện tích rừng lớn, bảo vệ rừng không thể chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách. Từ những người trực tiếp tuần tra, các tổ bảo vệ rừng, những hộ dân cùng nhau kiểm tra diện tích được giao đến những quy ước được cộng đồng thực hiện thành nếp, trách nhiệm giữ rừng đang được đưa về tận cơ sở.
Khi người dân hiểu, rừng còn thì sinh kế còn, khi lợi ích từ rừng gắn với lợi ích của cộng đồng, việc bảo vệ rừng sẽ không chỉ diễn ra trong những đợt cao điểm, mà trở thành công việc thường xuyên của mỗi gia đình, mỗi bản làng. Bởi, giữ rừng cũng chính là giữ nguồn sống cho hôm nay và cả mai sau.


