Chuẩn R&D đặt lại bài toán vốn
Dự thảo Thông tư quy định doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến phải dành tối thiểu 3% doanh thu cho R&D (nghiên cứu và phát triển) đang mở ra một yêu cầu mới về nguồn lực tài chính. Theo đó, chuẩn công nghệ được nâng lên, bài toán không chỉ là tăng đầu tư mà còn là hoàn thiện cấu trúc vốn cho đổi mới sáng tạo.
Nhu cầu vốn lớn phía sau tỷ lệ 3%
Dự thảo Thông tư quy định tiêu chí doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đang mở ra một cách tiếp cận mới trong đánh giá năng lực doanh nghiệp khi lần đầu tiên đưa mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thành một tiêu chí định lượng bắt buộc.
Theo đó, doanh nghiệp muốn được công nhận phải có doanh thu từ 1 tỷ USD/năm trở lên, sử dụng tối thiểu 5.000 lao động, có tổ chức khoa học và công nghệ, sở hữu bằng sáng chế quốc tế và dành ít nhất 3% tổng doanh thu cho hoạt động R&D.
Theo Báo cáo thuyết minh của Dự thảo Thông tư, ngưỡng 3% doanh thu đã được Bộ KH&CN lựa chọn sau khi tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, đồng thời đối chiếu với thực trạng đầu tư R&D của một số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam. Cụ thể, các doanh nghiệp như: Viettel, FPT, VNPT, CMC, MobiFone… đều đã được khảo sát, thống kê về mức chi hàng năm cho hoạt động R&D. Khảo sát cho thấy, hiện mức chi cho lĩnh vực này của Viettel, FPT và VNPT khoảng 1% doanh thu. Đối với CMC và MobiFone, con số chi tương ứng là khoảng 2% và 0,15%.
Nếu áp dụng ngưỡng tối thiểu 3% doanh thu, khi Thông tư kể trên được thông qua và có hiệu lực, mỗi năm chỉ tính riêng 5 doanh nghiệp được Ban soạn thảo sử dụng làm cơ sở xây dựng tiêu chí, nhu cầu vốn bổ sung đã vào khoảng 7.500-7.600 tỷ đồng. Trong đó, Viettel sẽ phải tăng thêm khoảng 4.300 tỷ đồng, FPT tăng thêm khoảng 1.300 tỷ đồng, VNPT khoảng 1.200 tỷ đồng; MobiFone hơn 700 tỷ đồng và CMC khoảng 100 tỷ đồng.
Theo thống kê, hiện Việt Nam có gần 80.000 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động. Vì vậy, nhu cầu vốn đầu tư cho R&D trong những năm tới sẽ rất đáng kể. Khoản vốn này không chỉ dành cho hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới mà còn tập trung cho các dự án trung tâm R&D, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ.
Theo các chuyên gia tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (UEB), hiện nay tổng đầu tư cho R&D của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 0,4-0,5% GDP. Tuy nhiên, Đề án tăng tổng chi xã hội cho hoạt động R&D đang được Bộ KH&CN xây dựng đặt mục tiêu từng bước nâng tổng đầu tư cho R&D của Việt Nam lên khoảng 2% GDP trong các năm tới.
Mục tiêu này đồng nghĩa khu vực doanh nghiệp sẽ phải gia tăng đáng kể quy mô đầu tư cho R&D. Không chỉ các tập đoàn công nghệ lớn, nhiều doanh nghiệp cũng sẽ phải từng bước nâng năng lực nghiên cứu nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây đều là những khoản đầu tư có thời gian thu hồi vốn dài nhưng quyết định khả năng làm chủ công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Đầu tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm là một chiến lược bài bản của doanh nghiệp không như hoạt động sản xuất thuần túy
Khơi thông vốn cho tài sản vô hình
Theo các báo cáo chuyên ngành, hiện nay phần lớn kinh phí dành cho lĩnh vực R&D của doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nội lực và được hình thành từ lợi nhuận giữ lại, dòng tiền sản xuất kinh doanh và quỹ phát triển khoa học và công nghệ của chính doanh nghiệp.
Quan sát thực tế tại các tập đoàn lớn như Viettel, FPT đều cho thấy rõ điều này. Thông tin từ FPT cho biết, nhiều năm qua doanh nghiệp duy trì cơ chế dành khoảng 5% lợi nhuận trước thuế của năm trước để đầu tư cho R&D. Trong khi đó, Viettel sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ kết hợp cơ chế giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư cho công nghệ lõi. Đây là nguồn lực giúp doanh nghiệp duy trì các chương trình nghiên cứu dài hạn về 5G, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ quốc phòng.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi nhu cầu đầu tư cho R&D ngày càng tăng, việc chỉ dựa vào nguồn vốn tự có sẽ tạo áp lực lớn đối với doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng được kỳ vọng sẽ trở thành một kênh vốn quan trọng để đồng hành cùng hoạt động đổi mới sáng tạo.
Thời gian qua, NHNN đã chỉ đạo các TCTD xây dựng và triển khai Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hạ tầng chiến lược với sự tham gia của 21 ngân hàng thương mại. Chương trình này áp dụng lãi suất thấp hơn thông thường từ 1-2% để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Bộ KH&CN cũng đang đề xuất thí điểm hỗ trợ 50% lãi vay thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF), với mức hỗ trợ tối đa 6%/năm trong thời gian 5 năm. Theo đề xuất, cơ chế nhà nước sẽ chia sẻ một phần chi phí vốn, còn ngân hàng vẫn thực hiện thẩm định và quyết định khoản vay theo nguyên tắc thị trường khi các thực thể sử dụng vốn vay ngân hàng.
Ông Trần Văn Nhiên, Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ Eximbank cho rằng, để các ngân hàng tham gia tài trợ nhiều hơn cho các dự án R&D, khung pháp lý về tài sản vô hình cần tiếp tục được hoàn thiện. Mặc dù quyền sở hữu trí tuệ hiện nay đã được pháp luật thừa nhận là tài sản bảo đảm nhưng giá trị của tài sản này phụ thuộc lớn vào khả năng khai thác, thương mại hóa công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế định giá, giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản vô hình sẽ là mắt xích quan trọng để dòng vốn tín dụng tham gia sâu hơn vào hoạt động R&D. Đây được xem là những bước đi quan trọng nhằm mở rộng các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp công nghệ, tạo thêm điều kiện để hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo được đầu tư bài bản, dài hạn hơn.



