Chủ động quỹ đất trồng rừng thay thế

Thành phố Đồng Nai đang đứng trước yêu cầu mở rộng không gian phát triển trong giai đoạn mới với nhiều dự án hạ tầng, công nghiệp, đô thị được triển khai. Bên cạnh tốc độ phát triển ấy là sức ép ngày càng lớn đối với tài nguyên đất, trong đó có đất lâm nghiệp. Khi một phần diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ phát triển, nhiệm vụ trồng rừng thay thế trở thành yêu cầu tiên quyết nhằm đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế và không gian sinh thái.

Không đánh đổi phát triển kinh tế bằng thu hẹp không gian sinh thái

Theo Kế hoạch trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh năm 2026, tổng diện tích phải trồng rừng thay thế là 620,06ha, trong đó 23,37ha rừng đặc dụng, 558,49ha rừng phòng hộ và 38,20ha rừng sản xuất. Tổng kinh phí thực hiện dự kiến gần 76 tỷ đồng. Quy mô này cho thấy áp lực không nhỏ đối với thành phố Đồng Nai. Theo thống kê, hơn 620ha rừng thay thế không thể giải quyết bằng những phương án ngắn hạn bởi việc trồng rừng là một quá trình dài từ chuẩn bị đất, thiết kế, lựa chọn cây giống, trồng, chăm sóc, bảo vệ đến nghiệm thu. Giá trị của rừng cũng không thể được tính ngay tại thời điểm cây được đưa xuống đất.

Rừng phòng hộ và cảnh quan Biên Hòa không chỉ điều hòa, lọc không khí mà còn có tác dụng giữ nước ngầm, hạn chế ngập lụt cho thành phố Ảnh: Trường Lâm

Rừng phòng hộ và cảnh quan Biên Hòa không chỉ điều hòa, lọc không khí mà còn có tác dụng giữ nước ngầm, hạn chế ngập lụt cho thành phố Ảnh: Trường Lâm

Nhiệm vụ trồng rừng thay thế không chỉ được nhìn như thủ tục cần phải hoàn thành để dự án có thể triển khai, nhiệm vụ này cần được xem như một cấu phần liên quan đến trách nhiệm môi trường trong toàn bộ vòng đời dự án. Với vai trò then chốt trong việc bảo đảm nguồn lực tài chính với nguồn kinh phí trồng rừng thay thế do các chủ dự án nộp, Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) cần phân bổ đúng mục tiêu, nhiệm vụ, gắn với kết quả hình thành rừng thực tế.

Theo đánh giá, tốc độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp và hạ tầng khiến quỹ đất ngày càng phải đáp ứng nhiều mục tiêu. Trong điều kiện đó, đất lâm nghiệp càng trở thành nguồn tài nguyên cần được tính toán kỹ lưỡng. Việc xác định quỹ đất trồng rừng thay thế trên địa bàn không phải lúc nào cũng thuận lợi, vì vậy quỹ đất phải phù hợp quy hoạch, có điều kiện tự nhiên thích hợp, không chồng lấn với các mục đích sử dụng khác và có khả năng tổ chức quản lý lâu dài. Kế hoạch năm 2026 của thành phố Đồng Nai đã bố trí diện tích trồng rừng tại nhiều khu vực, trong đó phần lớn diện tích nằm tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, cùng các khu vực Xuân Lộc, Đắk Mai, Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai. Đây được xem là hướng đi có tính thực tiễn với việc ưu tiên những khu vực có điều kiện để hình thành diện tích rừng tương đối tập trung, thuận lợi cho chăm sóc, bảo vệ và theo dõi lâu dài.

Tuy nhiên, ngay cả khi đã xác định được địa điểm, bài toán chất lượng rừng vẫn còn nguyên bởi một diện tích đất được đưa vào kế hoạch không đồng nghĩa với một diện tích rừng đã được hình thành. Rừng phải có tỷ lệ cây sống, khả năng sinh trưởng và khả năng thực hiện chức năng phòng hộ, bảo tồn, điều hòa môi trường. Vì vậy, yêu cầu trồng rừng thay thế cần được chuyển từ “đủ diện tích” sang “đủ chất lượng”. Chính vì vậy, vai trò của Quỹ NN-MT cần được đặt trong mối liên hệ với cơ quan quản lý đất lâm nghiệp cũng như chủ đầu tư. Là đầu mối tài chính, nhưng hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng diện tích rừng được hình thành và duy trì. Mỗi khoản tiền chủ dự án nộp vào Quỹ cần có “địa chỉ” rõ ràng trong kế hoạch trồng rừng. Nguồn lực cần được theo dõi từ lúc phát sinh nghĩa vụ, nộp vào Quỹ, phân bổ cho đơn vị thực hiện đến khi diện tích rừng được nghiệm thu. Nếu dữ liệu về diện tích cần trồng, nguồn kinh phí, vị trí đất, đơn vị thực hiện và tiến độ được quản lý trên một hệ thống thống nhất, cơ quan quản lý sẽ có khả năng theo dõi, kiểm tra theo thời gian thực hiệu quả hơn.

Cùng với đó, thành phố Đồng Nai cũng cần hình thành một cơ sở dữ liệu về quỹ đất có khả năng phục vụ trồng rừng thay thế. Đây có thể được xem như một “ngân hàng đất xanh”, giúp cơ quan quản lý chủ động hơn trước yêu cầu phát sinh từ các dự án. Nếu không chủ động từ trước, nguy cơ xảy ra tình trạng dự án đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính nhưng phương án trồng rừng chưa triển khai được vì thiếu đất sẽ tiếp tục tồn tại. Khi đó, nguồn lực tài chính bị “đứng lại”, trong khi mục tiêu phục hồi rừng chưa đạt được.

Chủ động quỹ đất để không bị động trước các dự án

Đất trồng rừng cần được tính trước, nguồn tiền phải được chuẩn bị trước và phương án tổ chức thực hiện cũng cần được xác định trước. Địa phương không thể chờ đến khi một dự án phát sinh nhu cầu mới bắt đầu tìm kiếm quỹ đất. Cách làm chủ động hơn là rà soát ngay các khu vực đất trống, đất suy thoái, diện tích có khả năng phục hồi rừng, đồng thời cập nhật quỹ đất theo quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch sử dụng đất. Việc này cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý đất đai, lâm nghiệp, tài chính, đầu tư và Quỹ Nông nghiệp và Môi trường. Một quỹ đất được xác định sớm sẽ giúp giảm thời gian chuẩn bị dự án trồng rừng; một cơ chế tài chính rõ ràng sẽ giúp nguồn kinh phí được đưa vào đúng nơi; một hệ thống dữ liệu tốt sẽ giúp kiểm soát được toàn bộ quá trình.

Theo một số chuyên gia, đây cũng là yêu cầu đặt ra từ quá trình phát triển đô thị và công nghiệp của thành phố Đồng Nai khi hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị và các dự án quy mô lớn tiếp tục được triển khai, áp lực lên đất đai sẽ tiếp tục tăng. Vì vậy, trách nhiệm bảo vệ rừng phải được đưa vào ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, không để đến khi dự án có nguy cơ chậm tiến độ mới xử lý nghĩa vụ trồng rừng. Chủ đầu tư cần xác định sớm nghĩa vụ, phương án và kinh phí; đồng thời cơ quan quản lý cần chủ động cung cấp thông tin về quỹ đất và Quỹ NN-MT trường cần đảm bảo nguồn tiền được quản lý đúng quy định vừa bảo đảm tiến độ phát triển, vừa tránh được nhiệm vụ bảo vệ môi trường phải “đợi” sau các mục tiêu kinh tế.

Bên cạnh đó, không nên đồng nhất kinh phí trồng rừng thay thế với kết quả trồng rừng. Kinh phí là điều kiện cần nhưng diện tích rừng được hình thành mới là kết quả cần hướng tới. Vì vậy, cơ chế kiểm tra, giám sát phải đi theo chuỗi. Sau phân bổ kinh phí, cần kiểm soát việc triển khai; sau khi trồng phải theo dõi tỷ lệ cây sống; sau nghiệm thu cần tiếp tục quản lý, bảo vệ diện tích rừng. Chỉ khi rừng được duy trì ổn định, nghĩa vụ phục hồi sinh thái mới có thể coi là đạt mục tiêu. 620,06ha rừng thay thế trong kế hoạch năm 2026 của thành phố Đồng Nai không đơn thuần là chỉ tiêu mà đây được xem như phép thử đối với năng lực quy hoạch, điều phối nguồn lực và tổ chức thực hiện của địa phương.

Quỹ Nông nghiệp và Môi trường, với chức năng quản lý nguồn lực tài chính, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu, xây dựng quy định tài chính cho quá trình này đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn và đơn vị trực tiếp quản lý đất, quản lý rừng.

Anh Việt

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/chu-dong-quy-dat-trong-rung-thay-the-10428140.html