Chủ động quản trị, đảm bảo an ninh nguồn nước
Cà Mau có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc nhưng vẫn đối mặt nguy cơ thiếu nước ngọt trong mùa khô, trong khi áp lực khai thác nước dưới đất ngày càng lớn. Theo bà Dương Thị Ngọc Tuyền, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi tỉnh, cho biết, giải pháp lâu dài không chỉ là trữ nước mà phải chủ động tạo nguồn, tăng khả năng chuyển nước liên vùng và hình thành hệ thống cấp nước đa tầng dựa trên dữ liệu và công nghệ.
Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau có phỏng vấn bà Dương Thị Ngọc Tuyền, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi tỉnh, xung quanh vấn đề trên.
Khai thác gắn với kiểm soát
- Thưa bà, vì sao Cà Mau có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày đặc nhưng vẫn thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô?
Bà Dương Thị Ngọc Tuyền: Cà Mau có địa hình thấp, bằng phẳng, tiếp giáp cả biển Ðông và biển Tây nên hệ thống sông, kênh, rạch chịu ảnh hưởng rõ của thuỷ triều và xâm nhập mặn. Vào mùa khô, lượng mưa giảm, bốc hơi tăng, nguồn nước ngọt trên hệ thống suy giảm nhanh, trong khi độ mặn có thể tăng cao và xâm nhập sâu vào nội đồng.
Mặt khác, nhu cầu nước giữa các khu vực rất khác nhau. Vùng chuyên ngọt cần giữ nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất; vùng lúa - tôm cần linh hoạt giữa nước ngọt và nước mặn theo mùa; vùng nuôi thuỷ sản lại cần nguồn nước có độ mặn và chất lượng phù hợp.
Theo ngành chức năng, hệ thống kênh thuỷ lợi trên địa bàn có khả năng trữ khoảng 276 triệu m³ nước; hồ chứa nước ngọt Khánh An có dung tích thiết kế khoảng 3,85 triệu m³. Ðây là những nguồn dự trữ quan trọng nhưng chưa đủ để tạo ra hệ thống bảo đảm nước ngọt ổn định cho toàn tỉnh trong những năm hạn hán kéo dài.
Vì vậy, cùng với việc khai thác hiệu quả nguồn nước hiện có, Cà Mau cần tăng khả năng trữ nước, chủ động tạo nguồn và từng bước hình thành hệ thống cấp nước có tính kết nối giữa các khu vực.

Hồ chứa nước ngọt phục vụ sinh hoạt, tưới tiêu trên đảo Hòn Khoai.
- Nước dưới đất giữ vai trò quan trọng trong cấp nước sinh hoạt, nhưng không phải là nguồn tài nguyên vô hạn, nên cần được khai thác hợp lý như thế nào, thưa bà?
Bà Dương Thị Ngọc Tuyền: Nước dưới đất vẫn là nguồn cấp quan trọng, nhất là đối với khu vực dân cư phân tán và những nơi chưa có điều kiện kết nối với hệ thống cấp nước tập trung. Ðây là nguồn nước gắn với đời sống người dân trong nhiều năm và có vai trò nhất định trong bảo đảm nhu cầu sinh hoạt.
Tuy nhiên, nước dưới đất là nguồn tài nguyên có giới hạn. Nước nhạt không phân bố đồng đều giữa các tầng chứa nước; một số khu vực có các chỉ tiêu chất lượng cần được xử lý trước khi sử dụng. Ðáng lưu ý, khai thác kéo dài với lưu lượng lớn có thể làm suy giảm mực nước, gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn vào tầng chứa nước và góp phần vào nguy cơ sụt lún đất.
Do đó, định hướng lâu dài là phải quản lý khai thác theo trữ lượng và khả năng phục hồi của từng tầng chứa nước, kiểm soát các công trình khai thác và từng bước chuyển sang cơ cấu nguồn nước bền vững hơn.
Tuy nhiên, việc giảm khai thác nước dưới đất phải có lộ trình và gắn với nguồn thay thế. Nơi nào đã có nguồn nước mặt hoặc hệ thống cấp nước ổn định thì từng bước giảm khai thác; nơi chưa có nguồn thay thế thì tiếp tục kiểm soát ở mức phù hợp trong giai đoạn chuyển tiếp, tránh ảnh hưởng đến nhu cầu nước thiết yếu của người dân.
Chủ động tạo nguồn, quản lý hiệu quả

Bà con đào ao, kênh trữ nước ngọt để tưới tiêu, phục vụ sản xuất (ảnh chụp tại Phường Lý Văn Lâm).
- Theo bà, Cà Mau cần thực hiện giải pháp chiến lược gì để chủ động hơn nguồn nước ngọt và quản lý hiệu quả nguồn nước?
Bà Dương Thị Ngọc Tuyền: Trước mắt, cần khai thác hiệu quả các nguồn nước hiện có, nâng khả năng trữ nước trong hệ thống kênh, hồ chứa và công trình thuỷ lợi. Ðồng thời, cần phát triển các giải pháp trữ nước quy mô vừa và nhỏ, như: ao, hồ hộ gia đình; hồ cộng đồng; bể chứa nước mưa, nhất là tại những khu vực khó tiếp cận hệ thống cấp nước tập trung.
Về lâu dài, tạo nguồn và chuyển nước liên vùng là hướng cần được nghiên cứu nghiêm túc.
Việc nghiên cứu, đề xuất dự án trạm bơm nước thô vùng Tây Nam Sông Hậu cùng hệ thống tuyến ống truyền tải cho thấy yêu cầu chuyển từ tư duy “mỗi công trình cấp nước một nguồn riêng” sang xây dựng mạng lưới cấp nước có tính liên kết.
Khi có nguồn nước thô liên vùng, tỉnh có thể từng bước kết nối các nhà máy, trạm cấp nước, hồ chứa và mạng phân phối; điều chuyển nước từ nơi có nguồn thuận lợi đến nơi thiếu nước, nhất là trong mùa khô. Ðiều này không chỉ bảo đảm nước sinh hoạt mà còn giảm áp lực khai thác nước dưới đất, tăng khả năng dự phòng và nâng cao sức chống chịu trước những mùa khô kéo dài.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm vận hành công trình mà phải dựa trên dữ liệu.
Cà Mau cần từng bước hình thành hệ thống dữ liệu tài nguyên nước thống nhất, liên thông giữa nước mặt, nước dưới đất, lượng mưa, độ mặn, chất lượng nước và nhu cầu sử dụng. Mở rộng các trạm quan trắc tự động tại những khu vực có nguy cơ xâm nhập mặn cao; dữ liệu phải được cập nhật liên tục để phục vụ dự báo, cảnh báo và điều hành. Việc ứng dụng GIS, viễn thám, mô hình thuỷ văn - thuỷ lực và các công cụ phân tích dữ liệu có thể giúp xác định sớm nguy cơ thiếu nước, dự báo diễn biến mặn và tính toán cân bằng nước theo từng tiểu vùng.
Mục tiêu là xây dựng “bản đồ nguồn nước” động của tỉnh, qua đó xác định tại từng thời điểm nguồn nước ở đâu, chất lượng như thế nào, khả năng khai thác bao nhiêu và nhu cầu tại từng khu vực ra sao.
Với sự khác biệt giữa các vùng sản xuất, không thể áp dụng một phương án quản lý nước giống nhau cho toàn tỉnh.
Ở vùng chuyên ngọt, cần giữ ngọt và kiểm soát xâm nhập mặn. Nhưng ở vùng nuôi thuỷ sản thì nước mặn, nước lợ lại là nguồn tài nguyên phục vụ sinh kế. Ðối với vùng lúa - tôm, yêu cầu còn linh hoạt hơn khi cần nước mặn trong mùa nuôi tôm và nước ngọt trong mùa trồng lúa.
Vì vậy, quản lý nước phải theo tiểu vùng sinh thái, không gian sản xuất và thời gian sử dụng nước. Việc đóng - mở cống, lấy nước, xả nước phải căn cứ diễn biến độ mặn, mực nước, dự báo thời tiết và nhu cầu sản xuất.
Ðặc biệt, người dân canh tác trong cùng vùng hệ thống thuỷ lợi cần phối hợp với nhau, bởi một hộ lấy nước hoặc xả nước không đúng thời điểm có thể ảnh hưởng đến cả khu vực.
Bà Dương Thị Ngọc Tuyền, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi tỉnh, nêu giải pháp.
- Từ thực tiễn hiện nay, Cà Mau cần thay đổi cách tiếp cận về an ninh nguồn nước như thế nào, thưa bà?
Bà Dương Thị Ngọc Tuyền: Theo tôi, Cà Mau cần chuyển từ ứng phó thiếu nước sang chủ động quản trị nguồn nước; từ khai thác đơn nguồn sang đa nguồn; từ các công trình riêng lẻ sang hệ thống liên kết.
Chủ động nước tại chỗ không có nghĩa mỗi hộ dân hay mỗi địa phương phải tự giải quyết toàn bộ nhu cầu nước, mà phải hình thành hệ thống nhiều tầng, từ hộ gia đình, cộng đồng, tiểu vùng đến cấp tỉnh và liên vùng. Mỗi tầng đều có nguồn chính, nguồn dự phòng và phương án ứng phó khi xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn hoặc sự cố ô nhiễm.
Cùng với đó, cần xem việc bảo vệ sông, kênh, rạch, rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước và không gian trữ nước tự nhiên là một phần của hạ tầng nước.
Về lâu dài, Cà Mau cần hướng tới hệ thống an ninh nguồn nước đa tầng, trong đó nước mặt, nước dưới đất, nước mưa, hồ chứa, kênh trữ nước và các tuyến chuyển nước liên vùng được kết nối, hỗ trợ nhau. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là “có nước”, mà phải là có nguồn nước an toàn, ổn định, có khả năng dự phòng và được phân bổ hợp lý cho người dân, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội.
- Xin cảm ơn bà!

