Chủ động kiểm soát nguồn thải để phát triển bền vững

Dưới sức ép của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng phương tiện giao thông, chất lượng môi trường không khí ở Thái Nguyên đang đứng trước những áp lực ngày càng lớn. Kiểm soát nguồn phát thải, nhất là từ các cơ sở sản xuất lớn, là yêu cầu cấp thiết để tỉnh phát triển công nghiệp nhưng không đánh đổi môi trường.

Hoạt động vận tải cũng là nguồn phát thải không thể xem nhẹ.

Hoạt động vận tải cũng là nguồn phát thải không thể xem nhẹ.

Những "điểm nóng" ô nhiễm không khí

Theo đánh giá hiện trạng môi trường không khí của tỉnh Thái Nguyên, từ năm 2021 đến nay, chất lượng không khí trên địa bàn nhìn chung được duy trì ở mức khá, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi và các phường, xã phía Bắc. Các thông số ô nhiễm chính như SO₂, NOx và CO cơ bản nằm trong giới hạn cho phép.

Tuy nhiên, ô nhiễm cục bộ về bụi PM10, PM2.5 vẫn thường xuyên xuất hiện tại một số khu vực trung tâm và phía Nam tỉnh, nơi tập trung nhiều hoạt động sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản và giao thông. Đáng chú ý là khu vực Quan Triều; các nhà máy xi măng Quang Sơn, La Hiên; khu vực Gang Thép; Cụm công nghiệp Điềm Thụy; khu vực khai thác quặng sắt Trại Cau, Cụm công nghiệp Trúc Mai; các nhà máy xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại và chất thải sinh hoạt như bãi rác Đá Mài, bãi rác Sông Công, khu xử lý rác xã Phúc Thuận, xã Điềm Thụy...

Kết quả tổng hợp trong tài liệu cho thấy, tại một số khu vực, nồng độ PM2.5 có thời điểm vượt giới hạn của Quy chuẩn Việt Nam QCVN 05:2023/BTNMT từ khoảng 1,02 đến 2,48 lần; PM10 cũng xuất hiện tình trạng vượt quy chuẩn. Những con số này cho thấy ô nhiễm không diễn ra trên diện rộng mà tập trung tại các “điểm nóng”, đòi hỏi phải nhận diện và xử lý theo từng nguồn phát thải.

Một trong những nguyên nhân quan trọng là cơ cấu phát triển công nghiệp đặc thù của địa phương. Thái Nguyên có truyền thống khai khoáng, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện và hóa chất - những ngành có nguy cơ phát sinh bụi, khí SO₂, NOx, CO và nhiều chất ô nhiễm khác. Các cơ sở có lượng phát thải lớn như Nhà máy Gang thép Thái Nguyên, các nhà máy xi măng Quang Sơn, La Hiên; các công trình xây dựng, mỏ khai thác đá ở xã Quang Sơn... vì thế luôn phải được đặt trong nhóm đối tượng cần kiểm soát chặt chẽ.

Đáng chú ý, theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, bụi kim loại chì (Pb) được ghi nhận tại một số vị trí gần khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu vực khai thác và chế biến khoáng sản như Gang Thép, Điềm Thụy, Trại Cau, Trúc Mai... Nguồn phát sinh có thể liên quan đến hoạt động luyện kim, cơ khí, chế biến kim loại. Với các chất ô nhiễm kim loại, việc chỉ quan trắc nồng độ tại một vài thời điểm là chưa đủ. Cần xác định nguồn phát thải, hướng phát tán và mức độ phơi nhiễm của cộng đồng để có giải pháp phù hợp, chính xác.

Giao thông cũng là nguồn phát thải không thể xem nhẹ. Sự gia tăng xe cá nhân, xe tải trọng lớn, xe vận chuyển vật liệu xây dựng, quặng và clinker vừa làm gia tăng khí thải động cơ, vừa cuốn bụi từ mặt đường. Tại các tuyến đường huyết mạch có mật độ phương tiện cao, tác động cộng hưởng càng rõ.

Cùng với đó là bụi từ các mỏ khai thác lộ thiên, công trường xây dựng, bãi tập kết vật liệu và đất đá rơi vãi trong quá trình vận chuyển. Hoạt động đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và đun nấu tại một số khu vực nông thôn cũng tạo ra những điểm ô nhiễm cục bộ.

Thách thức và giải pháp căn cơ

Thái Nguyên đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng. Thách thức đáng lưu ý là sự cộng hưởng của nhiều nguồn thải. Một nhà máy có thể đáp ứng quy chuẩn phát thải tại ống khói, nhưng khi cộng hưởng với bụi giao thông, khai thác khoáng sản, xây dựng và các cơ sở sản xuất xung quanh, chất lượng không khí tại khu dân cư vẫn có thể suy giảm.

Địa hình và điều kiện khí tượng cũng là yếu tố cần tính đến. Thái Nguyên có nhiều thung lũng, địa hình bán sơn địa; trong những thời điểm lặng gió, nghịch nhiệt, chất ô nhiễm khó khuếch tán, dễ tích tụ gần mặt đất. Đây là lý do có những thời điểm người dân cảm nhận rõ khói bụi dù hoạt động sản xuất không thay đổi đột biến.

Một thách thức khác đến từ các cơ sở quy mô nhỏ và nguồn phát thải phân tán. Nếu các nhà máy lớn có hệ thống quan trắc, xử lý khí thải tương đối bài bản thì các cơ sở nhỏ, hộ sản xuất, công trình xây dựng, phương tiện vận tải lại khó kiểm soát hơn.

Ô nhiễm không khí từ các bãi rác thải.

Ô nhiễm không khí từ các bãi rác thải.

Hiện, tỉnh có 18/25 lò đốt chất thải rắn công suất nhỏ đang hoạt động. Đây cũng là nguồn có thể phát sinh CO₂, NOx và các chất ô nhiễm khác. Trong khi đó, tỷ lệ thu gom chất thải rắn khoảng 84,14%; phần chưa được thu gom, xử lý triệt để vẫn có nguy cơ trở thành nguồn phát thải tự do.

Để giải quyết bài toán ô nhiễm không khí, trước hết, cần thay đổi cách tiếp cận: không chờ ô nhiễm xảy ra mới xử lý mà phải kiểm soát ngay từ nguồn. Giải pháp quan trọng nhất là kiểm soát chặt các cơ sở phát thải lớn. Các doanh nghiệp luyện kim, xi măng, nhiệt điện, khai khoáng phải duy trì nghiêm hệ thống xử lý bụi và khí thải; kiểm soát cả nguồn phát thải có tổ chức và nguồn phát tán trong quá trình bốc xúc, vận chuyển, tập kết nguyên liệu. Cùng với quan trắc tự động, cần tăng cường kiểm tra đột xuất vào những thời điểm có nguy cơ cao, nhất là mùa khô, khi người dân phản ánh có khói bụi bất thường hoặc dữ liệu quan trắc cho thấy chỉ số ô nhiễm tăng.

Thứ hai, cần quản lý ô nhiễm theo từng "điểm nóng" thay vì chỉ nhìn ở quy mô toàn tỉnh. Thứ ba, kiểm soát bụi từ giao thông và vận tải. Về lâu dài, cần tổ chức lại luồng vận tải nguyên liệu nhằm giảm xe tải nặng đi xuyên khu dân cư. Thứ tư, đẩy mạnh sản xuất sạch hơn và đổi mới công nghệ. Thứ năm, cần mở rộng mạng lưới quan trắc không khí, nhất là tại các khu dân cư gần khu, cụm công nghiệp và mỏ khai khoáng. Dữ liệu quan trắc cần được công khai, cập nhật thường xuyên để người dân biết chất lượng không khí nơi mình sinh sống...

Phát triển công nghiệp không đánh đổi môi trường

Thái Nguyên đã có những bước tiến trong quản lý chất lượng không khí. Đến nay, 55/63 doanh nghiệp thuộc diện phải kiểm kê khí nhà kính đã hoàn thành và được thẩm định báo cáo, đạt khoảng 87%. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh từng bước xây dựng hệ thống quản lý phát thải dựa trên dữ liệu.

Tuy nhiên, yêu cầu trong giai đoạn mới cao hơn nhiều: phát triển công nghiệp phải gắn với trách nhiệm môi trường. Mỗi dự án mới cần được đánh giá không chỉ ở lượng phát thải của riêng dự án mà cả khả năng chịu tải của khu vực, khoảng cách tới khu dân cư và sự cộng hưởng với các nguồn thải hiện hữu.

Về lâu dài, Thái Nguyên cần hình thành cơ chế quản lý chất lượng không khí theo hướng “quan trắc - cảnh báo - truy nguồn - xử lý - giám sát sau xử lý”. Bảo vệ bầu không khí không thể chỉ là trách nhiệm của một ngành mà phải là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, các ngành, doanh nghiệp và người dân.

Một nền công nghiệp hiện đại không chỉ được đo bằng quy mô sản xuất hay giá trị tăng trưởng mà còn bằng khả năng tạo ra môi trường sống an toàn cho người dân. Với Thái Nguyên, kiểm soát ô nhiễm không khí vì thế không phải là rào cản của phát triển, mà chính là điều kiện để quá trình công nghiệp hóa đi xa hơn, bền vững hơn.

Ngọc Quang

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/chu-dong-kiem-soat-nguon-thai-de-phat-trien-ben-vung