Chờ đất... (Bài 1): Hơn 3 thập kỷ dang dở giấc mơ 'an cư'

Hơn 3 thập kỷ trước, 14 hộ dân bản Năng Cát rời nơi ở cũ, mang theo niềm tin về một cuộc sống ổn định hơn ở vùng kinh tế mới. Họ có đất để dựng nhà, có rừng để gây dựng sinh kế, có lời hứa về một tương lai an cư. Thế nhưng, sau hơn 30 năm bám đất, điều họ vẫn thiếu lại chính là quyền hợp pháp đối với mảnh đất mình đang sinh sống.

Những diện rừng khi được trao quyền cho người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp sẽ phát huy hiệu quả, góp phần giảm nghèo. Ảnh: Đình Giang

Những diện rừng khi được trao quyền cho người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp sẽ phát huy hiệu quả, góp phần giảm nghèo. Ảnh: Đình Giang

Con đường nhựa bằng phẳng đưa chúng tôi đến bản du lịch Năng Cát, xã Linh Sơn trong ngày hè nắng gắt. Hai bên đường, những ngôi nhà sàn được sửa sang thành các homestay, biển quảng bá du lịch được dựng lên dưới tán rừng già như báo hiệu một vùng đất đang thức dậy cùng kinh tế du lịch. Thế nhưng, cũng ở nơi ấy lại đang tồn tại một ngôi làng nhỏ mang tên “Làng 327” - với cái nghèo hiện hữu qua gần 20 nóc nhà đã bạc màu thời gian. Đây là những hộ đã đăng ký đi vùng kinh tế mới theo Quyết định 327-CT, ngày 15/9/1992 về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước của Hội đồng Bộ trưởng (gọi tắt là Dự án 327).

Trước mắt tôi, những ngôi nhà sàn lụp xụp, khói bếp bảng lảng bay lên, vài người già lặng lẽ đi lại và những đứa trẻ lấm lem nô đùa trên khoảng đất đỏ. Ít ai biết rằng, “Làng 327” ấy được hình thành từ hơn 30 năm trước theo một chủ trương lớn của Nhà nước. Những người dân đầu tiên đến đây từng mang theo niềm tin về một vùng kinh tế mới, nơi họ sẽ có đất dựng nhà, có nương rẫy để canh tác, có một cuộc sống ổn định hơn sau những năm tháng thiếu đất sản xuất ở bản cũ. Nhưng hơn 30 năm trôi qua, điều còn lại không phải là một vùng kinh tế mới trù phú hay những ngôi nhà khang trang, mà là sự mòn mỏi chờ đợi một ngày được “an cư” đúng nghĩa.

Trưởng bản Năng Cát, anh Vi Văn Đạt, người đàn ông ngoài 40 tuổi, cũng chính là một trong những đứa trẻ theo cha mẹ đến đây xây dựng kinh tế mới từ những ngày đầu thực hiện dự án. Anh Đạt dừng lại trước khoảng đất rộng trước nhà nhìn về phía những quả đồi xanh thẫm, buông tiếng thở dài: “Hồi đó chỉ có 14 hộ bản Năng Cát đăng ký đi đến vùng kinh tế mới này. Chủ yếu là những gia đình đông con, thiếu đất ở, đất sản xuất, muốn tách hộ để có cuộc sống ổn định hơn. Mỗi hộ đều được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí dựng nhà”. Khu đất mới khi ấy còn hoang vu, phải phát cây dọn đá để mở đường. Những mái nhà sàn đầu tiên dựng lên giữa bạt ngàn lau lách. Theo quy hoạch, mỗi hộ được giao một khoảng đất để sản xuất trồng cây theo dự án (bấy giờ là cây mơ và cây quế). Xa hơn là chủ trương xây dựng trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... để hình thành một khu dân cư mới, giúp các hộ dân định canh, định cư lâu dài.

Bà Lò Thị Bun kể về những ngày đầu đặt chân đến vùng đất mới.

Bà Lò Thị Bun kể về những ngày đầu đặt chân đến vùng đất mới.

Những người dân khi ấy tin rằng, rồi đây con cháu mình sẽ lớn lên trên chính mảnh đất ấy. Niềm tin, viễn cảnh đủ lớn để họ rời bỏ nơi ở cũ, bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Ngày đầu đến đây, bà con trồng quế, trồng mơ theo định hướng của dự án. Sau nhiều năm, khi cây trồng không còn phù hợp, họ chuyển sang trồng keo, trồng sắn, trồng ngô để mưu sinh. Cuộc sống tuy còn nhiều khó khăn nhưng chí ít cũng có đất để bám víu. Thế nhưng, điều họ không ngờ là mảnh đất gắn bó suốt hơn ba thập kỷ ấy vẫn chưa một lần được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hỏi ra thì, họ đang là những công dân sống trên đất rừng phòng hộ. Diện tích khai hoang cũng bị thu hồi; mỗi hộ chỉ còn khoảng 1ha để trồng lâm sản. Việc sửa nhà hay thu hoạch keo, luồng... đều phải báo cáo ban quản lý rừng phòng hộ. “Cũng có nhiều cuộc họp, tiếp xúc cử tri, bà con kiến nghị nhiều về chính sách. Mong được cấp đất ở, có sổ đỏ để vay vốn sản xuất, ổn định cuộc sống, nhưng đến nay, câu trả lời vẫn là... chờ!”, trưởng bản Vi Văn Đạt cảm khái.

Không có giấy tờ đối với đất ở, đất sản xuất cũng do ban quản lý rừng phòng hộ tiếp quản, mọi ý tưởng đầu tư, phát triển sản xuất, mở rộng sinh kế đều trở nên dè dặt. Hiện nay, người ở lại “Làng 327” chủ yếu là người già, trẻ nhỏ. Thanh niên lớn lên đa phần đều đi làm ăn xa.

Với hoàn cảnh anh Ngân Văn Sơn càng trở nên khó khăn hơn. Anh Sơn bị bệnh bạch tạng nên dù muốn tìm kiếm một công việc ở nơi khác cũng khó, buộc phải bám trụ trên chính mảnh đất của bố mẹ ở “Làng 327”. Thế nhưng, do chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp, mọi dự định làm kinh tế đều rất hạn chế. Muốn dựng thêm căn nhà; sửa sang làm homestay đón khách du lịch cũng không thể thực hiện. Ngay cả những đồi keo do chính mình bỏ công trồng nhiều năm, đến kỳ khai thác cũng phải làm thủ tục báo cáo xin ý kiến. “Ở đây muốn làm cái gì cũng phải báo cáo. Bà con quen rồi!”, anh Sơn cười, nhưng trong nụ cười ấy, tôi nhận ra một sự ngậm ngùi.

Bà Lò Thị Bun (sinh năm 1956) vẫn nhớ như in những ngày đầu đặt chân đến vùng đất mới. Bà kể: “So với nơi ở cũ thì ở đây đất rộng, rừng nhiều. Ngoài diện tích được dự án giao, nhà nào cũng cố gắng khai hoang thêm để có đất sản xuất”. Những năm đầu, bên cạnh diện tích trồng rừng theo dự án, bà con còn xen canh ngô, sắn, lúa nương và nhiều loại cây ngắn ngày để lấy lương thực, từng bước ổn định cuộc sống trên vùng kinh tế mới. Thế nhưng, khi những quy định về quản lý rừng được siết chặt, diện tích khai hoang cũng lần lượt phải trả lại. Việc chăn thả gia súc dưới tán rừng không còn được phép, trong khi quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất ở của người dân đến nay vẫn chưa được giải quyết.

Có lẽ, đó cũng là lý do mà suốt hơn 30 năm qua, “Làng 327” chỉ phát sinh thêm 4 hộ!

Cách không xa là ngôi nhà của anh Ngân Văn Sáng. Với anh, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng nghĩa với việc không thể thế chấp vay vốn ngân hàng để đầu tư sản xuất. Nhiều chính sách hỗ trợ vì thế cũng khó tiếp cận. Nằm giữa vùng được quy hoạch phát triển du lịch sinh thái, không ít hộ gia đình từng tính chuyện sửa lại nhà sàn, làm thêm vài phòng nghỉ để đón khách, bán đặc sản địa phương nhằm tạo thêm sinh kế, nhưng rồi mọi dự định đều phải dừng lại bởi một lý do: chưa được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Làng 327 chủ yếu người già và trẻ nhỏ.

Làng 327 chủ yếu người già và trẻ nhỏ.

Không chỉ cuộc sống của gần 20 hộ dân bị níu lại bởi những nút thắt về đất đai, vướng mắc này còn ảnh hưởng đến quá trình triển khai Dự án Khu Du lịch sinh thái thác Ma Hao. Do khu dân cư chưa được xác lập đầy đủ quyền sử dụng đất, trong khi một phần quy hoạch phát triển du lịch lại chồng lấn, khiến cho việc xác định phương án giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gặp không ít khó khăn, khiến dự án nhiều năm chưa đạt tiến độ như kỳ vọng.

Mang những trăn trở ấy đến Ban Quản lý rừng phòng hộ Lang Chánh, chúng tôi cũng nhận được sự chia sẻ từ đơn vị quản lý. Giám đốc ban, ông Lê Xuân Điệp cho biết: Vấn đề của “Làng 327” đã nhiều lần được phản ánh và đưa ra bàn bạc. Tuy nhiên, do vướng các quy định về quản lý đất lâm nghiệp và quy hoạch rừng nên đến nay vẫn chưa thể xử lý dứt điểm. Hiện Ban Quản lý rừng phòng hộ Lang Chánh đang phối hợp với UBND xã Linh Sơn rà soát hiện trạng sử dụng đất, đối chiếu hồ sơ pháp lý để nghiên cứu phương án xử lý phù hợp. Mục tiêu là từng bước tách khu dân cư ra khỏi diện tích đất rừng phòng hộ, bàn giao cho địa phương quản lý, tạo cơ sở giải quyết quyền sử dụng đất cho người dân, đồng thời mở ra dư địa phát triển kinh tế và du lịch.

Hơn 30 năm đã trôi qua, những đứa trẻ theo cha mẹ đến vùng kinh tế mới ngày nào nay đã trở thành những người cha, người mẹ. Có người rời bản đi mưu sinh, có người vẫn lặng lẽ ở lại gìn giữ những nếp nhà cũ. Chỉ có điều, giấc mơ “an cư” mà họ mang theo từ buổi đầu khai mở vùng đất mới vẫn còn dang dở. Và khi nút thắt về đất đai chưa được tháo gỡ, hành trình ổn định cuộc sống của những cư dân “Làng 327” vẫn sẽ chỉ là một giấc mơ còn chờ ngày thành hiện thực.

Đình Giang

(Còn nữa)

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/cho-dat-bai-1-hon-3-thap-ky-dang-do-giac-mo-an-cu-295670.htm