Chính sách nhất quán, hỗ trợ doanh nghiệp dài hạn
Ông Vũ Ngọc Sơn (ảnh), Trưởng Ban Nghiên cứu, tư vấn, phát triển công nghệ và hợp tác quốc tế Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, chia sẻ với phóng viên Báo Sài Gòn Giải Phóng về thực trạng hoạt động các nền tảng xuyên biên giới tại Việt Nam.

* PHÓNG VIÊN: Hầu hết các nền tảng số xuyên biên giới - từ thương mại điện tử đến dịch vụ giải trí, mạng xã hội - hoạt động ở Việt Nam hiện nay đều của nước ngoài, do các công ty đa quốc gia vận hành. Điều này nói lên điều gì?
* Ông VŨ NGỌC SƠN: Bức tranh này phản ánh 3 tồn tại lớn. Thứ nhất, về năng lực, xây dựng nền tảng xuyên quốc gia đòi hỏi hạ tầng điện toán quy mô lớn, vốn mạo hiểm dài hạn, chấp nhận lỗ nhiều năm và hiệu ứng mạng lưới đủ lớn. Việt Nam có nhân lực kỹ thuật tốt nhưng thiếu tích lũy vốn và kinh nghiệm quản trị sản phẩm toàn cầu.
Thứ hai, về chủ quyền dữ liệu, khi dữ liệu, hành vi tiêu dùng của người Việt nằm trên hạ tầng nước ngoài, Việt Nam đối mặt rủi ro về an toàn dữ liệu cá nhân khi có sự cố hoặc biến động đột ngột, nguy cơ dữ liệu bị khai thác ngoài tầm kiểm soát của pháp luật trong nước.
Thứ ba, về hiệu quả kinh tế số, giá trị gia tăng lớn (quảng cáo, hoa hồng, dữ liệu) đang chảy ra nước ngoài thay vì được tái đầu tư trong nước. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn ở vị trí "người dùng công nghệ" hơn là "người kiến tạo công nghệ".

Ngày 9-9-2019, mạng xã hội Lotus ra mắt với nhiều kỳ vọng về một mạng xã hội lớn nhưng sau đó thì mất hút dần. ẢNH: TRẦN BÌNH
* Đâu là nguyên nhân của những tồn tại nói trên, thưa ông?
* Có thể nhìn thấy 2 điểm nghẽn rất lớn cản trở sự phát triển của nền tảng nội địa. Đầu tiên là việc bất cân xứng trong thực thi pháp luật. Doanh nghiệp Việt chịu giám sát, chế tài trực tiếp và tức thời, trong khi nền tảng xuyên biên giới thường có độ trễ lớn do vướng các quy định pháp lý giữa nhiều quốc gia, thiếu hiện diện pháp nhân tại chỗ. Hệ quả là chi phí tuân thủ của doanh nghiệp Việt bị đội lên tương đối so với đối thủ ngoại.
Tiếp theo là bất cân xứng về tài chính và quy mô. Doanh thu nội địa chưa đủ lớn để tái đầu tư mạnh vào công nghệ lõi trong khi nền tảng toàn cầu có thể trợ giá chéo từ hàng tỷ người dùng ở nhiều thị trường, cùng nguồn vốn mạo hiểm dồi dào.
* Việt Nam cần phải làm gì để có thể phát triển, vận hành những nền tảng số xuyên biên giới đủ lớn, thu hút được người dùng ?
* Về phía quản lý nhà nước, theo tôi, cần siết chặt yêu cầu hiện diện pháp nhân với nền tảng nước ngoài quy mô lớn, đảm bảo nghĩa vụ tuân thủ được áp dụng đồng đều cho mọi chủ thể. Đồng thời, đầu tư hạ tầng số nền tảng (điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu, băng thông) để giảm chi phí đầu vào; xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm trong nước đủ mạnh, trong đó có thể sử dụng vốn mồi nhà nước, thiết kế chính sách ưu đãi thuế cho startup công nghệ trong giai đoạn đầu.
Về phía các doanh nghiệp công nghệ, nên mạnh dạn mở rộng ra thị trường khu vực ngay từ sớm để tăng quy mô, không chỉ nhắm vào thị trường nội địa. Tập trung vào các phân khúc ngách với lợi thế bản địa như ngôn ngữ, văn hóa, tích hợp dịch vụ công..., thay vì đối đầu trực diện với gã khổng lồ toàn cầu. Đầu tư nghiêm túc vào bảo mật, đặc biệt là an ninh dữ liệu cá nhân và niềm tin người dùng, vốn là yếu tố cạnh tranh ngày càng quan trọng. Đây là bài toán dài hạn, từ 10 đến 20 năm, nên rất cần chính sách nhất quán.
* Ông HOÀNG NINH, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công thương):
Đặt ra những yêu cầu mới về quản lý dữ liệu
Khi hoạt động kinh tế ngày càng dịch chuyển lên môi trường số, quy mô và mức độ ảnh hưởng của các nền tảng cũng ngày càng lớn. Điều này đặt ra những yêu cầu mới về quản lý dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng, thực hiện nghĩa vụ thuế, kiểm soát hàng hóa vi phạm, bảo đảm an toàn giao dịch và thực thi pháp luật đối với hoạt động xuyên biên giới.
Để hình thành các nền tảng số và hạ tầng thương mại điện tử có năng lực cạnh tranh, Việt Nam cần tập trung vào một số hướng chính. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chính sách cần xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong kinh tế nền tảng, nhất là đối với quản lý dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng, định danh chủ thể kinh doanh và hoạt động xuyên biên giới, đồng thời tạo không gian cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, cần phát triển hạ tầng và khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu. Một hướng quan trọng là nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, trong đó tăng cường ứng dụng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới; khai thác lợi thế am hiểu thị trường, người tiêu dùng và các ngành hàng Việt Nam để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị khác biệt.
* Ông TRẦN VIẾT QUÂN, CEO Công ty Tanca:
Khai thác nền tảng thay vì tìm cách thay thế
Tất cả nền tảng xuyên quốc gia, từ mạng xã hội đến thương mại điện tử đều đang cạnh tranh trên cùng một tài nguyên: thời lượng sử dụng của người dùng. Mỗi lần lướt, mỗi giây dừng lại trên một video, mỗi lần bấm vào một sản phẩm đều trở thành dữ liệu để hệ thống hiểu người dùng. Kết quả là một vòng lặp nội dung gần như không có điểm dừng và gây nghiện cho không ít người. Có thể thấy khá rõ, khi người dùng ngày càng dành nhiều thời gian cho các nội dung giải trí, video ngắn..., sẽ dần chuyển sang mua sắm trực tuyến.
Các nền tảng toàn cầu cạnh tranh bằng hạ tầng, dữ liệu, nguồn vốn lớn..., cùng mô hình kinh doanh chấp nhận lỗ nhiều năm để chiếm thị phần. Vì không thể đối đầu trực diện nên chúng ta có thể định hướng cộng đồng tạo ra nội dung tốt hơn, sạch hơn... Nếu nội dung số của Việt Nam đủ hấp dẫn và số lượng đủ nhiều, thuật toán của các nền tảng sẽ phân phối. Doanh nghiệp công nghệ Việt nên xây dựng sản phẩm, công cụ và mô hình kinh doanh trên chính các nền tảng lớn để cùng khai thác doanh thu, thay vì tìm cách thay thế.
* Ông VÕ QUỐC HƯNG, Giám đốc tăng trưởng và Giám đốc chi nhánh TPHCM Công ty Tonkin Agency:
Chủ động nâng cao "sức đề kháng số"
Theo số liệu từ WeAreSocial, công ty chuyên nghiên cứu thị trường digital thế giới, với khoảng 79 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm gần 80% dân số) và trung bình hơn 7 giờ trực tuyến mỗi ngày, người Việt đang ngày càng lệ thuộc sâu sắc vào các nền tảng ngoại. Khi TMĐT là sân chơi toàn cầu, người bán rơi vào thế bị động hoàn toàn về chi phí, có thời điểm các khoản phí chiếm 40% giá trị đơn hàng.
Việc các nền tảng dễ dàng tạo ưu thế cho hàng giá rẻ xuyên biên giới khiến các doanh nghiệp sản xuất trong nước mất đi lợi thế cạnh tranh. Về tác động xã hội và tâm lý, khi mô hình mua sắm kết hợp giải trí (Shoppertainment) cùng thuật toán gợi ý liên tục kích thích hành vi mua sắm sẽ dẫn đến lãng phí tài chính cá nhân. Việt Nam không chỉ cần các chế tài pháp lý đủ mạnh để quản lý thuế và đảm bảo an toàn, an ninh mạng, mà người dùng cũng cần chủ động nâng cao “sức đề kháng số” trong từng hành vi tiêu dùng.
Nhóm PV
