Chia sẻ trách nhiệm - Phát triển bền vững
Quy định các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đóng góp kinh phí bằng 1% giá tính thuế tài nguyên không chỉ là giải pháp bổ sung nguồn lực đầu tư hạ tầng, bảo vệ môi trường mà còn là bước chuyển tư duy 'khai thác gắn với trách nhiệm', hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Nhiều doanh nghiệp khai thác đá đồng thuận đóng góp kinh phí để xử lý môi trường và xây dựng hạ tầng giao thông.
Từ nguồn lực phát triển đến chia sẻ trách nhiệm
Không nhiều địa phương hội tụ nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú như Thái Nguyên. Than, sắt, vonfram, vàng, chì, kẽm, đá vôi, cát sỏi, đất san lấp, cao lanh, thạch anh... tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của ngành công nghiệp khai khoáng và chế biến nhiều năm qua. Đây cũng là một trong những động lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng GRDP, tăng thu ngân sách, tạo việc làm và thúc đẩy hình thành chuỗi công nghiệp chế biến của tỉnh.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 178 giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực, gồm 29 giấy phép do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp, 148 giấy phép do UBND tỉnh cấp và một giấy phép khai thác trong diện tích xây dựng công trình. Quy mô khai thác lớn đồng nghĩa với nguồn thu đáng kể cho ngân sách, đồng thời tạo việc làm ổn định cho hàng chục nghìn lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những con số tăng trưởng là những áp lực ngày càng rõ nét đối với các địa phương có hoạt động khai thác khoáng sản. Nhiều tuyến đường phải "gánh" lưu lượng lớn xe tải trọng nặng ngày đêm vận chuyển quặng, đá, cát nên xuống cấp nhanh.
Bụi, tiếng ồn, nước thải, chất thải phát sinh từ khai thác và chế biến khoáng sản tác động trực tiếp đến môi trường sống của người dân. Không ít địa phương vừa hưởng lợi từ phát triển công nghiệp, vừa phải đối mặt với bài toán bảo vệ hạ tầng và xử lý ô nhiễm.
Điều đáng nói là trong nhiều năm qua, kinh phí để sửa chữa đường giao thông, đầu tư công trình môi trường hay khắc phục những tác động phát sinh vẫn chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước.
Trong khi đó, những ảnh hưởng trực tiếp lại xuất phát từ hoạt động khai thác tài nguyên. Chính thực tiễn ấy đặt ra yêu cầu phải hình thành một cơ chế phân chia trách nhiệm rõ ràng hơn giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư - những chủ thể cùng được hưởng lợi hoặc chịu tác động từ khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Chính sách hợp lý, minh bạch, công bằng

Hoạt động khai thác cát tại xã Nam Hòa.
Ngày 17/7/2026, HĐND tỉnh Thái Nguyên khóa XV ban hành Nghị quyết số 61/2026/NQ - HĐND quy định về mức thu và quản lí sử dụng kinh phí đóng góp của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh bằng 1% giá tính thuế tài nguyên tương ứng với từng nhóm, loại khoáng sản khai thác. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không còn phụ thuộc vào sự tự nguyện mà được thực hiện thống nhất, công bằng, minh bạch và có tính ràng buộc cao.
Theo Nghị quyết 61, khoản kinh phí đóng góp được cơ quan thuế thu và nộp 100% vào ngân sách tỉnh. Nguồn lực này sẽ được ưu tiên đầu tư, sửa chữa hệ thống giao thông, các công trình cấp nước sạch, xử lý nước thải, chất thải và các hạng mục bảo vệ môi trường tại chính những khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động khai thác khoáng sản.
Điểm đáng chú ý là cơ chế này không làm phát sinh sự chồng chéo với các khoản thuế, phí hay nghĩa vụ ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường mà doanh nghiệp đang thực hiện theo quy định. Đây là nguồn lực bổ sung nhằm giải quyết những tác động thực tế phát sinh trong quá trình khai thác, đồng thời tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển.
Quan trọng hơn, chủ trương này tạo ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Trước đây, nhiều doanh nghiệp chủ động hỗ trợ xây dựng đường giao thông, trường học, nhà văn hóa hay các công trình dân sinh, song cũng có đơn vị gần như chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với địa phương nơi khai thác.
Khi nghĩa vụ được "luật hóa" bằng nghị quyết của HĐND tỉnh, mọi doanh nghiệp sẽ cùng thực hiện trên một mặt bằng chính sách thống nhất, tránh tình trạng nơi làm nhiều, nơi làm ít hoặc không làm.
Ông Âu Ngọc Biên, Phó Giám đốc Công ty TNHH Lãng Hoa - đơn vị khai thác cát tại xã Nam Hòa, cho rằng việc quy định bằng nghị quyết sẽ tạo sự công bằng giữa các doanh nghiệp, đồng thời giúp trách nhiệm xã hội được thực hiện minh bạch và ổn định hơn.
Lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và cộng đồng

Hệ thống giao thông cần được duy tu bảo dưỡng thường xuyên.
Không ít người cho rằng nghĩa vụ tài chính mới sẽ làm tăng chi phí sản xuất. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của nhiều doanh nghiệp đang trực tiếp khai thác khoáng sản, khoản đóng góp này thực chất là một sự đầu tư trở lại cho môi trường sản xuất của chính mình.
Ông Kiều Văn Bình, Giám đốc Công ty TNHH Hải Bình, đơn vị khai thác đá tại mỏ đá Quang Sơn, cho rằng: Mức đóng góp 1% là phù hợp, không tạo áp lực quá lớn đối với hoạt động sản xuất. Đổi lại, khi hệ thống giao thông được nâng cấp, doanh nghiệp sẽ giảm chi phí vận chuyển, hạn chế hư hỏng phương tiện và nâng cao hiệu quả khai thác. Quan trọng hơn, môi trường sống được cải thiện sẽ tạo sự đồng thuận của người dân, giúp hoạt động sản xuất ổn định và bền vững hơn.
Cùng quan điểm đó, ông Trương Trần Bảo, Phó Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông thôn miền núi, cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cần được thể hiện bằng những cơ chế dài hạn thay vì chỉ dừng lại ở các chương trình hỗ trợ mang tính thời điểm. Một chính sách rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện nghĩa vụ, đồng thời khẳng định hình ảnh doanh nghiệp phát triển bền vững cùng địa phương.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Sở Nông nghiệp và Môi trường đánh giá đây là giải pháp phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Khoáng sản là tài nguyên hữu hạn, là tài sản chung của địa phương và quốc gia. Khi doanh nghiệp được quyền khai thác để tạo ra giá trị kinh tế thì việc đóng góp một phần nguồn lực nhằm bảo vệ môi trường, duy tu hạ tầng và phục vụ cộng đồng là hoàn toàn hợp lý.
Thực chất, Nghị quyết 61 không đơn thuần tạo thêm một khoản thu cho ngân sách. Điều cốt lõi là thiết lập một nguyên tắc phát triển mới: Nơi nào khai thác tài nguyên thì nơi đó phải có thêm nguồn lực để tái đầu tư cho hạ tầng và môi trường. Đây cũng là cách để hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, Nhà nước và người dân, hạn chế những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp khai khoáng.
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu quan trọng, nhưng sẽ không thể bền vững nếu môi trường suy giảm và hạ tầng bị quá tải. Chủ trương đóng góp 1% giá tính thuế tài nguyên vì thế mang ý nghĩa vượt lên trên một chính sách tài chính đơn thuần. Đó là thông điệp về trách nhiệm, về sự đồng hành và về cách ứng xử văn minh đối với nguồn tài nguyên hữu hạn của thiên nhiên.
Khi mỗi tấn khoáng sản được khai thác đều góp thêm nguồn lực để xây dựng những tuyến đường bền vững hơn, những công trình môi trường tốt hơn và một không gian sống an toàn hơn cho người dân thì giá trị của tài nguyên không chỉ được đo bằng sản lượng hay nguồn thu ngân sách, mà còn được đo bằng chất lượng phát triển và sự đồng thuận của xã hội.
Đó cũng chính là nền tảng để Thái Nguyên tiếp tục khai thác hiệu quả lợi thế khoáng sản, nhưng theo một con đường bền vững, có trách nhiệm hơn và hướng tới lợi ích lâu dài của cả cộng đồng.



























![[Infographic] Chứng khoán ngày 29/7: Thị trường có phiên tăng điểm thứ 2 liên tiếp, vượt lên vùng kháng cự tâm lý 1.700 điểm](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_29_14_55722240/ee417e4c3607df598616.jpg)

