Chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được nâng cao
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển bền vững, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Giáo dục không chỉ giúp khai phá tiềm năng, mà còn trang bị tri thức và kỹ năng để mỗi người làm chủ cuộc sống, tự do tư duy và đóng góp hữu ích cho xã hội.

Giáo dục giúp khai phá tiềm năng, trang bị tri thức và kỹ năng cho mỗi cá nhân. Ảnh: PHÚC KHANG
Cải thiện bình đẳng giới từ góc độ giáo dục
Theo số liệu của Cục Thống kê, những năm vừa qua, tỷ lệ dân số từ 5 tuổi trở lên đang đi học và đã thôi học khá ổn định. Tỷ lệ đang đi học dao động khoảng 23-24%; tỷ lệ đã thôi học dao động khoảng 73-74%. Trong khi đó, tỷ lệ dân số chưa bao giờ đi học có xu hướng giảm nhẹ từ 3,1% năm 2020 xuống 2,4% năm 2025.
Nhìn chung, tỷ lệ học sinh đi học chung và đi học đúng tuổi các cấp có xu hướng tăng dần do sự tác động của nhiều yếu tố về đời sống, văn hóa, xã hội và đặc biệt là chính sách phổ cập giáo dục được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam. Tỷ lệ đi học chung cấp tiểu học rất cao (99%) và hầu như không có sự chênh lệch giữa khu vực thành thị, nông thôn, và các vùng, miền.
Điều này cho thấy việc tiếp cận giáo dục tiểu học cũng như chương trình phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các tỉnh, thành phố của Việt Nam đều rất tốt. Tuy nhiên tỷ lệ đi học chung cấp Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) có xu hướng thấp dần và có sự chênh lệch lớn hơn khi so sánh giữa khu vực thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế - xã hội, khu vực thành thị và các vùng có mức sống cao hơn thường có tỷ lệ đi học ở hai cấp này cao hơn và ngược lại.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu biết đọc, biết viết là một trong những số đo chung phản ánh chất lượng của giáo dục. Nhìn chung, tỷ lệ biết đọc, biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam khá cao, dao động ổn định khoảng 96-97% hàng năm. Tỷ lệ biết đọc, biết viết hầu như không có sự chênh lệch giữa nam và nữ nhưng có sự chênh lệch một chút giữa khu vực thành thị và nông thôn (98,8% so với 96%), điều này được cho là do sự chênh lệch về mức sống cũng như điều kiện kinh tế, xã hội giữa hai khu vực cũng như khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục. Tuy nhiên, sự chênh lệch này đang được thu hẹp lại trong những năm gần đây.
Nếu phân chia theo vùng thì đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao nhất toàn quốc lần lượt với 99,4% và 98,7%, trong khi đó các vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là hai vùng có tỷ lệ này thấp nhất, lần lượt với 92,2% và 95,4%. Đây cũng là hai vùng có sự chênh lệch về tỷ lệ biết đọc, biết viết giữa thành thị và nông thôn cao nhất cả nước. Tỷ lệ biết đọc, biết viết được tính là phần trăm những người biết đọc, biết viết của một độ tuổi nhất định trong tổng dân số của độ tuổi đó (thường tính cho dân số từ 15 tuổi trở lên).
Ở các nhóm tuổi trẻ, tỷ lệ biết đọc, biết viết của nam giới và nữ giới là khá cao và gần như bằng nhau (trên 99%), sau đó tỷ lệ này giảm dần khi độ tuổi tăng lên, Bên cạnh đó, khoảng cách giữa nam và nữ cũng ngày càng được mở rộng hơn khi độ tuổi tăng lên. Điều đó cho thấy vấn đề bình đẳng giới trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục ở Việt Nam ngày càng được cải thiện.

Hơn 2/3 số người từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam có trình độ học vấn từ THCS trở lên. Ảnh: PHÚC KHANG
Nâng cao trình độ học vấn là trách nhiệm của mỗi cá nhân
Theo đánh giá của các chuyên gia thống kê, trình độ học vấn là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng dân số nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, dân tộc. Nâng cao trình độ học vấn không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà mỗi cá nhân cũng cần cố gắng học tập, nâng cao trình độ học vấn của bản thân, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước và của toàn xã hội.
Trên phạm vi toàn quốc, hơn 2/3 số người từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam có trình độ học vấn từ THCS trở lên (71,3%); con số này của khu vực thành thị là 80% và của khu vực nông thôn là 65,4%. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ học vấn từ THPT trở lên có xu hướng tăng và có sự chênh lệch đáng kể giữa khu vực thành thị và nông thôn (54,8% so với 31,5%).
Trình độ học vấn có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng kinh tế - xã hội, phản ánh sự chênh lệch về điều kiện sống và tình trạng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng. Theo kết quả điều tra, đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, và Bắc Trung Bộ là những vùng có trình độ học vấn cao hơn. Trong khi đó, đồng bằng sông Cửu Long, Trung du miền núi phía Bắc và Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là những vùng có trình độ học vấn thấp hơn.
Khi phân chia trình độ chuyên môn kỹ thuật theo 5 nhóm: Không có chuyên môn kỹ thuật, Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng và Đại học trở lên thì kết quả điều tra hàng năm cho thấy, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật có xu hướng giảm dần từ 80,8% năm 2019 xuống còn 74,9% năm 2025.
Ngược lại, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên có xu hướng tăng từ 19,2% năm 2019 lên 25,1% năm 2025. Trong đó, tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ đại học trở lên cũng có xu hướng tăng từ 9,3% năm 2019 lên 11,7% năm 2025.
Các chuyên gia thống kê chỉ ra rằng, có sự khác biệt đáng kể về trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn. Cụ thể, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên của khu vực thành thị gấp hơn hai lần khu vực nông thôn (36,4% và 17,7%). Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên của nam giới là 28,7%; nữ giới là 21,6%.
Đồng bằng sông Cửu Long, Trung du miền núi phía Bắc là những vùng có tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn so với các vùng còn lại, trong đó, tỷ lệ này thấp nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, với 14,8%. Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất toàn quốc với tỷ lệ lần lượt là 32,3% và 29,6%./.
