Câu trả lời đẹp nhất
Tháng Bảy. Cơn mưa đầu chiều vừa dứt, con đường làng như được gột rửa bằng một thứ ánh sáng dịu dàng. Hai bên lối nhỏ, hàng bạch đàn vẫn đứng lặng, lá non còn đọng nước, mỗi khi gió đi ngang lại rơi xuống những giọt trong veo, nghe lách tách trên mặt đất.
Xa hơn chút nữa là cánh đồng vừa qua vụ gặt, gốc rạ còn thơm mùi nắng cũ. Mỗi năm tới tháng này, quê tôi dường như phủ thêm một tầng cách âm. Người ta nói nhỏ hơn, đi nhẹ hơn, bởi trong lòng ai cũng dành một khoảng lặng cho những người đã nằm xuống mảnh đất quê nhà.

Tượng đài “Mẹ Việt Nam Anh hùng” ở thành phố Đà Nẵng là biểu tượng thiêng liêng khắc ghi những hy sinh vô bờ bến của các Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Cuộc sống này được nối dài từ sự hy sinh của biết bao con người. Ở nghĩa trang liệt sĩ của xã, những hàng mộ thẳng tắp dưới bóng sao đen già. Dưới bia mộ là các bác, các anh - những người từng có tuổi thơ, từng có mẹ cha ngóng đợi, từng biết yêu một dòng sông, một bến nước, một mái nhà.
Mẹ tôi bảo, hồi chiến tranh, xóm mình nghèo lắm. Đêm xuống, người lớn chẳng dám thắp đèn sáng vì sợ máy bay phát hiện. Mỗi khi nghe tiếng chân bộ đội ghé qua, bà con lại lặng lẽ bới nồi cơm còn nóng đem ra, chia từng củ khoai, củ sắn cho các anh. Có nhiều người đi rồi không trở lại. Sáng hôm sau, trên chiếc chõng tre vẫn còn bát cơm chưa kịp ăn hết.
Thế hệ chúng tôi lớn lên trong hòa bình. Chúng tôi chưa từng nghe tiếng bom rơi giữa bữa cơm, chưa từng đào hầm tránh pháo, cũng chưa từng chia nhau từng lon gạo giữa những ngày chiến sự. Có lẽ vì chưa trải qua nên nhiều lúc vô tình coi sự bình yên là điều hiển nhiên. Chỉ đến khi đứng trước những hàng mộ trắng, nhìn năm sinh của các anh dừng lại ở tuổi mười chín, đôi mươi, tôi mới giật mình nhận ra tuổi trẻ của họ đã dừng lại để tuổi trẻ của bao người khác được tiếp tục.
Tháng Bảy cũng là tháng của những ngọn nến tri ân. Khi chiều buông, từng đốm lửa nhỏ lần lượt sáng lên giữa nghĩa trang. Ánh nến không đủ xua tan bóng tối nhưng đủ để sưởi ấm lòng người. Tôi luôn thích hình ảnh ấy. Nó giống như lòng biết ơn của mỗi thế hệ, dù nhỏ bé, dù lặng lẽ, vẫn từ truyền từ đời này sang đời khác.
Có lần tôi gặp một bà cụ tóc bạc, chống gậy đi từng hàng mộ. Bà không tìm tên con mình. Bà chỉ cắm hoa lên những ngôi mộ chưa xác định được danh tính. Tôi hỏi vì sao, bà cười hiền: “Con mình nằm đâu thì bà không biết. Nhưng biết đâu, trong những ngôi mộ này lại có con của một người mẹ khác đang chờ được thắp nén nhang”. Hóa ra tình yêu nước đôi khi không bắt đầu từ những điều lớn lao, mà từ tình yêu thương dành cho một người xa lạ. Trên đất nước này, có biết bao người mẹ, người vợ đã tiễn con ra trận và hôm nay, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn hằng ngày mong được đón con trở về.
Những cánh đồng hôm nay vẫn xanh. Những chuyến tàu vẫn rời ga mỗi sáng. Những khu phố lên đèn, những em nhỏ tung tăng đến trường, những người trẻ miệt mài gây dựng tương lai... tất cả đều là câu trả lời đẹp nhất dành cho những người đã ngã xuống. Bởi điều họ mong mỏi nhất, suy cho cùng, cũng chỉ là một đất nước bình yên để con cháu được sống những ngày không còn tiếng súng.
Tháng Bảy với tôi chưa bao giờ chỉ là một mốc thời gian. Nó giống một khoảng lặng giữa năm, để mỗi người cúi đầu trước quá khứ rồi ngẩng lên sống tử tế hơn với hiện tại. Tri ân không chỉ nằm ở bó hoa hay nén nhang ngày tưởng niệm. Tri ân còn là cách mình giữ gìn những điều bình dị quanh mình, đó là yêu lấy mảnh đất này, sống có trách nhiệm hơn, biết san sẻ và không quên những bước chân của những người đi trước.
Chiều nay, gió lại thổi qua cánh đồng. Những mảng đất ruộng theo gió cuộn lên mùi của mầm cây. Tôi chợt nghĩ, có lẽ sự hy sinh cũng giống như lớp đất màu dưới chân. Người ta đôi khi dễ lãng quên chúng, nhưng chính từ lớp đất ấy, lúa mới trổ bông, cây mới đơm trái và quê hương mới xanh mãi đến hôm nay.




























