Câu đối đỏ - ước vọng, tâm tình xuân...

Trong không khí hân hoan, rạo rực chuẩn bị cho những ngày tết đến, xuân về, hình ảnh câu đối đỏ hiện lên trong tâm khảm mỗi người con đất Việt như dấu gạch nối thiêng liêng, bền chặt giữa quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Mỗi nét chữ được viết nên là một lần mùa xuân hiện diện, chở bao niềm tin, ước vọng của con người trước một khởi đầu mới...

Câu đối đỏ trong những ngày xuân rộn ràng vừa gợi lên thú chơi tao nhã vừa chuyển tải những thông điệp văn hóa, giáo dục, đạo lý.

Câu đối đỏ trong những ngày xuân rộn ràng vừa gợi lên thú chơi tao nhã vừa chuyển tải những thông điệp văn hóa, giáo dục, đạo lý.

Khi mùa đông lạnh lẽo dần qua đi cũng là lúc nàng xuân ấm áp, căng tràn sức sống, tưới tắm cho chồi non lộc biếc sinh sôi, hoa thêm sắc thêm hương, quả thêm đượm ngọt. Xuân sang, tết đến, vòng lặp thời gian tựa lời ước hẹn tốt lành.

Theo quan niệm của người Việt, tết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là dấu mốc kết thúc một năm cũ, khởi đầu của một năm với bao háo hức, rộn ràng, hy vọng. Vì lẽ đó, con người ta tùy vị thế xã hội mà có cách suy ngẫm, cảm nhận riêng về khoảng thời gian ý nghĩa này.

Bậc tao nhân mặc khách nhấp chén trà, chén rượu, tán thưởng cảnh sắc thiên nhiên. Bậc trí giả chiêm nghiệm thời cuộc, nghiền ngẫm về nhân tình thế thái. Người đi buôn chỉ mong sao chuyện làm ăn hanh thông thuận lợi, mua may bán đắt. Những người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” chẳng có mong ước gì cao sang ngoài mấy cái trông - “trông trời, trông đất, trông mây/Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm/Trông cho chân cứng đá mềm” đã vận cả vào ca dao, tục ngữ...

Tất cả những mong cầu, ước vọng đầu xuân cũng được gửi gắm, chuyển tải sinh động và hấp dẫn qua các hình thức văn học nghệ thuật. Trong đó, câu đối tết có lẽ là một trong những thể loại văn học thuận lợi nhất, phù hợp nhất cho sự gửi gắm, thổ lộ nỗi niềm xuân - tết, tâm tư của con người lúc giao mùa. Vì lẽ đó, từ một thể loại văn học của Trung Hoa du nhập vào, qua quá trình tiếp biến và sáng tạo, phát triển, câu đối tết trở thành món ăn tinh thần, nét đẹp văn hóa Việt Nam.

Trong cuốn sách “Việt Nam văn học sử yếu”, tác giả Dương Quảng Hàm nhận định: Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau. Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau. Đối chữ thì vừa phải đối thanh, tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng, vừa phải đối loại của chữ nghĩa. Phép đối được ứng dụng trong nhiều thể thơ, riêng câu đối là thể loại văn học ứng dụng hoàn toàn phép đối.

Đối là nghệ thuật chơi chữ, biểu hiện tài năng, trí tuệ, khí phách, tình cảm của con người. Người xưa muốn thử tài nhau cũng thường sử dụng câu đối. Chuyện chính sự hay bang giao giữa hai nước, các sứ giả cũng có lúc “so kè” bằng câu đối. Người túc nho, trí giả cũng tự mình viết câu đối tết cho mình, bày tỏ tiếng lòng trước dịp thiêng liêng của đất trời, đổi mới quê hương, đất nước, trước nhân tình thế sự và buồn vui cuộc đời, chuyển tải những thông điệp văn hóa, giáo dục bổ ích...

Nói về cái tâm thế lạc quan, vui vẻ, yêu đời trong những ngày tết, nhiều người nghĩ ngay đến đôi câu đối của cụ Nguyễn Công Trứ mà thoáng tủm tỉm cười: “Chiều ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa/ Sáng mùng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông phúc vào nhà”.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng góp vào kho tàng câu đối tết Việt Nam chút hóm hỉnh, cá tính: “Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa quỷ tới/ Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân về”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người có nhiều câu đối hay mỗi độ tết đến, xuân về. Xuân Bính Tuất năm 1946 là một mùa xuân đặc biệt, mang đậm dấu ấn lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng, với đất nước và Nhân dân ta. Đây là tết đầu tiên, mùa xuân đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập: “Rượu cộng hòa, hoa bình đẳng, mừng xuân độc lập/ Bánh tự do, giò bác ái, ăn tết dân quyền”...

Tấm tắc với tài năng, sự uyên bác của người xưa rồi kết những nhịp cầu đến hôm nay để ngẫm nghĩ về câu đối nói chung, câu đối tết nói riêng trong nhịp sống hiện đại. Quan sát đời sống hôm nay, với những gì đang diễn ra với câu đối, nhiều người vừa thấy mừng, vừa thấy lo. Mừng vì trải qua biến thiên thời gian, thăng trầm lịch sử, khi nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một hoặc mai một rồi, câu đối vẫn giữ được vị trí riêng của nó. Người ta vẫn bỏ công, bỏ sức tìm tòi, sẵn sàng chi tiền để tìm chọn câu đối hay, ý nghĩa, trình bày đẹp mắt nhằm treo ở vị trí đắc địa, trang trọng trong gia đình, nhà thờ họ hay các di tích... Câu đối vẫn bền bỉ sức sống trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Đó là điều đáng quý.

Thế nhưng, trong niềm vui ấy đã thấy len lỏi cả những nỗi băn khoăn, trăn trở. Ông Lê Văn Bài, tác giả cuốn sách “Câu đối Việt Nam - sưu tầm và khảo cứu” chia sẻ: “Trong xã hội, nhiều người chưa hiểu đầy đủ về câu đối. Nhiều nơi treo những câu đối được trình bày rất đẹp, sơn son thếp vàng, được mua với giá tiền đáng kể nhưng không hiểu câu đối là gì, không biết câu đối đang dùng nói lên điều gì”. Như thế, người ta đang nghiêng về hình thức nhiều hơn là nội dung; người ta xem câu đối đơn thuần là vật trang trí hơn là ý nghĩa sâu xa của nó.

Trên hành trình tiếp biến văn hóa, việc đâu đó gợn lên những băn khoăn, trăn trở là điều tất yếu bởi sự đan xen, va chạm giữa cái mới và giá trị truyền thống. Điều quan trọng là cách chúng ta “gạn đục khơi trong” giá trị, nêu cao tinh thần, trách nhiệm gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của cha ông. Mỗi câu đối được viết lên tấm giấy hồng điều, giấy xuyến chỉ là một lần nét đẹp, ý nghĩa xuân - tết được lan tỏa, tô đậm trong dòng chảy văn hóa Việt.

Bài và ảnh: Hoàng Linh

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/cau-doi-do-nbsp-uoc-vong-tam-tinh-xuan-277031.htm