Cánh cửa cảm thông mở lối hoàn lương
Chính sách đặc xá từ lâu đã là một chủ trương lớn, kết tinh truyền thống nhân đạo, khoan hồng sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với những người từng lầm đường lạc lối nhưng biết ăn năn hối cải và có quá trình cải tạo tích cực. Giây phút bước qua cánh cổng trại giam luôn mở ra một trang đời mới, trả lại quyền tự do và trao cơ hội quý báu để người lầm lỡ trở về đoàn tụ cùng gia đình.
Thế nhưng, khoảnh khắc ấy chưa bao giờ là điểm kết thúc, mà thực chất mới chỉ là vạch xuất phát của một hành trình đầy gian nan. Đó là hành trình tái hòa nhập cộng đồng. Và tính nhân văn của chính sách khoan hồng chỉ thực sự trọn vẹn và phát huy giá trị kinh tế - xã hội bền vững khi người được đặc xá có đủ điểm tựa vững chắc để hoàn lương, trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Thực tế cho thấy, đặc xá và tái hòa nhập cộng đồng là hai mắt xích có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, không thể tách rời. Đúng như chỉ đạo của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại Hội nghị tổng kết công tác đặc xá và tái hòa nhập cộng đồng năm 2026 diễn ra ngày 20/8 vừa qua: “Công tác đặc xá phải gắn kết với tái hòa nhập cộng đồng”. Nếu việc đặc xá dừng lại ở việc trả tự do về mặt cơ học mà thiếu đi những giải pháp đồng hành tiếp nối, người hoàn lương rất dễ rơi vào trạng thái chông chênh, bơ vơ giữa dòng đời. Tái hòa nhập chính là đích đến thực chất, nơi chuyển hóa lòng nhân ái của luật pháp thành hoa trái của đời sống. Một xã hội an lành, một chính sách phòng ngừa tội phạm hiệu quả không thể xây dựng từ sự bỏ mặc, mà phải bắt đầu từ việc tạo dựng những bệ đỡ vững chắc để ngăn ngừa nguy cơ tái phạm từ gốc rễ.
Thế nhưng, con đường phục thiện trở về chưa bao giờ dễ dàng. Người hoàn lương thường phải đối diện với muôn vàn rào cản nghiệt ngã cả về vật chất lẫn tinh thần, trong đó, thách thức trực diện nhất chính là bài toán mưu sinh. Quãng thời gian cách biệt với thế giới bên ngoài khiến họ bị tụt hậu về kỹ năng nghề nghiệp, thiếu hụt thông tin lao động và vô cùng chật vật để tìm kiếm một công việc nuôi sống bản thân. Nặng nề hơn cả là gánh nặng tâm lý tự ti cùng bức tường vô hình xây bằng sự nghi kỵ, định kiến và phán xét từ những người xung quanh. Khi bế tắc kinh tế cộng hưởng với nỗi cô đơn bị đẩy ra bên lề xã hội, ngọn lửa hướng thiện vừa nhen nhóm rất dễ bị dập tắt, đẩy họ trượt dài trở lại con đường lầm lỗi cũ.
Chính vì vậy, để cơ hội làm lại cuộc đời không bị bỏ lỡ, công tác hỗ trợ cần phải thoát ly khỏi những lời động viên mang tính hình thức để chuyển hóa thành các giải pháp cụ thể, thực chất và có chiều sâu. Cần trao cho họ những “chiếc cần câu” sinh kế bền vững thông qua việc đào tạo nghề phù hợp với năng lực, giới thiệu việc làm và tạo điều kiện tiếp cận các nguồn vốn vay chính sách ưu đãi. Đặc biệt, phương thức hỗ trợ phải được cá nhân hóa một cách linh hoạt, căn cứ vào hoàn cảnh, lứa tuổi, sức khỏe và trình độ của từng đối tượng cụ thể; kiên quyết xóa bỏ cách làm theo phong trào, hời hợt chỉ nhằm báo cáo thành tích. Song song với sự nâng đỡ về kinh tế, công tác quản lý, giáo dục định hướng cũng phải được duy trì chặt chẽ nhằm khơi dậy lòng tự trọng, ý chí tự lực vượt khó và trách nhiệm công dân trong mỗi con người. Hành trình ấy đòi hỏi sự chung tay, đồng lòng của toàn bộ hệ thống xã hội. Gia đình và dòng họ chính là “thành trì” tinh thần ấm áp đầu tiên, nơi tình mẫu tử và sự ruột thịt xoa dịu mặc cảm, tiếp thêm niềm tin để họ sửa sai. Cấp ủy, chính quyền cơ sở và lực lượng chức năng đóng vai trò nòng cốt trong việc giám sát, thực thi an sinh và gắn kết các chương trình kinh tế địa phương. Trên hết, cộng đồng xã hội cần dũng cảm dỡ bỏ những rào cản định kiến, rộng mở cánh cửa bao dung và cảm thông.
Thước đo của một xã hội văn minh, nhân ái không chỉ nằm ở sự nghiêm minh của pháp luật trừng trị cái ác, mà còn tỏa sáng rực rỡ ở khả năng dung thứ, gieo mầm hy vọng và trao cơ hội kiến tạo tương lai cho những phận đời lầm lỡ biết quay đầu hướng thiện.
