Cần xác định rõ tiêu chí đất bỏ hoang

Một trong những đề xuất đáng chú ý trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân vừa được Bộ Tài chính trình Chính phủ là bổ sung quy định về thuế suất đối với đất bỏ hoang không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

Cụ thể, dự thảo đề xuất bổ sung khoản 8 vào Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định đất bỏ hoang, không, chậm đưa vào sử dụng (không áp dụng hạn mức) áp dụng mức thuế suất 0,2%, cao hơn gần 7 lần so với mức đang áp dụng. Việc xác định đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Theo Bộ Tài chính, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành đã có một số quy định nhằm khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả như đất ở áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần với mức thuế suất 0,03% đối với diện tích trong hạn mức; 0,07% đối với phần diện tích từ trên 1 - 3 lần hạn mức và 0,15% đối với phần diện tích trên 3 lần hạn mức. Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, mức thuế suất hiện hành là 0,03%; đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định là 0,15%; đất lấn, chiếm là 0,2%.

Lý giải về đề xuất này, Bộ Tài chính cho rằng, hiện Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chưa có quy định về mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Mặt khác, việc áp thuế với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng còn nhằm hạn chế đầu cơ, chống lãng phí, lành mạnh thị trường và cụ thể hóa chủ trương nghiên cứu chính sách tài chính, thuế với lộ trình phù hợp nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng bỏ hoang đất, chậm đưa đất vào sử dụng, hạn chế đầu cơ tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.

Thực tế, Luật Đất đai 2024 cũng như các luật thuế hiện hành chưa có định nghĩa về đất bỏ hoang. Định nghĩa này mới chỉ có trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), theo đó, đất bỏ hoang là "đất đã được Nhà nước giao, cho thuê mà không đưa vào sử dụng liên tục trong một thời gian nhất định". Bởi vậy, dù tán thành với đề xuất này nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, vấn đề mấu chốt là phải làm rõ thế nào là đất bỏ hoang và mốc thời gian xác định như thế nào.

Phân tích rõ hơn về vấn đề này, một đại biểu Quốc hội cho rằng, giải pháp này là đúng nhưng chưa đủ bởi chưa làm rõ tiêu chí, căn cứ, cơ sở để xác định thế nào là đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng. Cần làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan do đâu bởi thực tế có tình trạng vướng quy hoạch nên phải bỏ hoang. Có như vậy việc đánh thuế mới khả thi.

Ý kiến khác đề nghị không nên áp dụng theo kiểu cứ đất chưa xây dựng là áp thuế vì ở nước ta, nhất là khu vực nông thôn, các gia đình thường tích lũy, chuẩn bị đất đai cho con cháu trong tương lai. Không nên coi đây là đầu cơ, tích trữ đất đai để áp thuế mà nên có cơ chế loại trừ tương tự như giảm trừ gia cảnh khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể, cơ quan quản lý có thể đưa ra hạn mức đất ở của một gia đình được sở hữu tính theo diện tích hoặc thửa đất trên tổng số thành viên, phần vượt hạn mức nếu chưa đưa vào sử dụng sẽ bị tính thuế.

Thuế là một trong những công cụ để điều tiết thị trường bất động sản. Nếu được áp dụng đồng bộ với các công cụ điều tiết khác, cơ chế này có thể làm giảm tình trạng găm giữ đất đai, khiến doanh nghiệp và người dân thay đổi hành vi sử dụng đất. Dù vậy, khi đề xuất áp dụng thuế với đất bỏ hoang hoặc chậm đưa vào sử dụng, điều cốt lõi là phải làm rõ tiêu chí xác định như thế nào. Và tinh thần cốt lõi của chính sách nên là đánh thuế cao vào đất bị cố tình găm giữ để đầu cơ, không đánh thuế với người dân chỉ vì đang sở hữu đất nhưng chưa sử dụng do nguyên nhân khách quan.

Ninh Hà

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/can-xac-dinh-ro-tieu-chi-dat-bo-hoang-10433858.html