Cần một hệ sinh thái đồng bộ

Đầu tư để gia tăng năng lực cạnh tranh

Ông Đặng Đức Anh, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược cho biết, năm 2026 là giai đoạn bản lề trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam. Trong đó, công nghiệp hóa xanh và giảm phát thải carbon trong chuỗi cung ứng trở thành nội dung mới của chính sách công nghiệp hiện đại. Trước bối cảnh đó, phát triển các KCN thế hệ mới sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dòng vốn FDI và gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Từ góc độ người xây dựng chính sách, ông Lê Trung Thành, đại biểu Quốc hội, ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng nhận thấy, tiêu chí lựa chọn KCN của các nhà đầu tư đã thay đổi rõ rệt. Trước đây nhà đầu tư chủ yếu quan tâm đến vị trí, giá thuê, nguồn lao động, thì hiện nay các tiêu chí về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và khả năng tham gia chuỗi cung ứng ngày càng trở thành yếu tố quyết định. Trước thực tế này, Quốc hội đã và đang hoàn thiện nhiều đạo luật quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Đầu tư cùng các luật về dữ liệu, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho sự phát triển của KCN thế hệ mới.

Tuy nhiên hành trình này cũng gặp không ít thách thức. Trong đó, chi phí xây dựng KCN xanh thường cao hơn khoảng 30% so với khu truyền thống. Ông Trương Văn Phong, đại diện Ban Quản lý các Khu chế xuất và KCN TP. Hồ Chí Minh cho biết, chi phí đầu tư vào công nghệ sinh thái rất cao, đòi hỏi nguồn vốn lớn để đáp ứng các tiêu chí. Cùng với đó, hiện cơ chế chính sách ưu đãi chưa đủ rõ ràng và hấp dẫn về thuế, đất đai và các ưu đãi khác.

Cùng chung nhận định này, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cho rằng, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là cần làm gì để xanh hóa KCN, mà là lấy nguồn vốn ở đâu, cơ chế nào để huy động, ai chịu rủi ro, ai xác nhận kết quả phát thải, và dòng tiền hoàn vốn đến từ đâu.

Cần có cơ chế phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư để phát triển các KCN thế hệ mới

Cần có cơ chế phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư để phát triển các KCN thế hệ mới

Thí điểm có chiều sâu và nhân rộng

Trước “bài toán” vốn cho KCN thế hệ mới, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng, VIFC-HCMC có thể đóng vai trò là một bộ chuyển đổi thể chế và tài chính giúp kết nối nhu cầu chuyển đổi xanh trong nước với dòng vốn bền vững toàn cầu. Chẳng hạn như phát triển các công cụ trái phiếu xanh, trái phiếu chuyển đổi bền vững, tín dụng xanh, quỹ đầu tư chuyển đổi năng lượng, quỹ hạ tầng xanh, bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm rủi ro khí hậu cũng như các công cụ phòng ngừa rủi ro về năng lượng, tỷ giá và lãi suất. Đặc biệt, mô hình phát hành trái phiếu xanh theo danh mục dự án được đánh giá là phù hợp với các KCN. Thay vì từng doanh nghiệp tự huy động vốn, ban quản lý KCN hoặc doanh nghiệp phát triển hạ tầng có thể tập hợp nhiều dự án xanh thành một danh mục đủ lớn để chuẩn hóa, đánh giá độc lập, xếp hạng tín nhiệm và huy động vốn trên thị trường.

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, cần lựa chọn một số KCN thí điểm để triển khai mô hình tài chính xanh cấp phân khu. Các khu thí điểm nên có sự sẵn sàng về hạ tầng, doanh nghiệp, dữ liệu, nhu cầu chuyển đổi và khả năng phối hợp với tổ chức tài chính. Không nên triển khai dàn trải ngay từ đầu, mà cần làm thí điểm có chiều sâu, đo lường kết quả rõ ràng, sau đó nhân rộng.

Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí dự án xanh áp dụng cho KCN thế hệ mới, hài hòa với chuẩn mực quốc gia và quốc tế. Bộ tiêu chí này là nền tảng để ngân hàng cho vay, nhà đầu tư mua trái phiếu, tổ chức xác nhận đánh giá và cơ quan quản lý giám sát. Ngoài ra, chuyển đổi xanh KCN không thể chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp, KCN hoặc chỉ là chính sách của Nhà nước, mà cần có cơ chế phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư.

Bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng cho biết, thành phố đã triển khai các giải pháp đồng bộ từ quy hoạch, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư đến hỗ trợ doanh nghiệp trong toàn bộ vòng đời dự án. Trong đó, cắt giảm 30 - 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với quy định chung; hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng lao động; phát triển nhà ở công nhân, bảo đảm an sinh xã hội và tạo điều kiện để người lao động tiếp cận các dịch vụ xã hội. Hiện thành phố đang xây dựng đề án, cơ chế và chính sách hỗ trợ các KCN chuyển đổi sang mô hình sinh thái, đồng thời thúc đẩy cộng sinh công nghiệp.

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban, Chủ tịch Hội đồng khoa học Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương còn nhấn mạnh, phải nâng cao hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển KCN thế hệ mới. Mục tiêu chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được các chương trình hỗ trợ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, sản xuất thông minh của Nhà nước. Cùng với đó, các chính sách về nhà ở, hạ tầng xã hội và nâng cao chất lượng sống cho người lao động cũng cần được hoàn thiện đồng bộ. Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu được triển khai và môi trường đầu tư quốc tế đang thay đổi nhanh chóng, Việt Nam cần đánh giá lại hệ thống chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để vừa tuân thủ các cam kết quốc tế, vừa duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn FDI chất lượng cao cũng như khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Giang Võ

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/can-mot-he-sinh-thai-dong-bo-184872.html