'Cách mạng về, tôi như chim xổ lồng'
Chỉ còn 1 mùa thu nữa, bà Lê Phương (tên thật là Nguyễn Thị Sâm) sẽ bước vào tuổi 100. Bà vẫn minh mẫn, rành rọt kể cho tôi nghe về Mùa thu Độc lập cách nay tròn 81 năm, khi cả dân tộc cùng vỡ òa cảm xúc bởi từ đây: "Mỗi người đều có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Với riêng bà, Cách mạng về đã mở ra cho bà một con đường mới.

Bà Lê Phương vinh dự nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng do Quận ủy Tây Hồ trao tặng nhân dịp Quốc khánh 2/9/2024. Em trai bà là Nguyễn Xuân Bích (thứ 4 từ trái sang) và em gái bà là Nguyễn Thị Thành Nhân (thứ 3 từ trái sang) vinh dự nhận Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng
Cả 4 người con trong gia đình đều đi làm Cách mạng
Sinh ra trong một gia đình doanh nhân, có bố làm nghề xây dựng, đảm nhiệm các công trình giao thông, thủy lợi trên khắp cả nước; mẹ là một phụ nữ đảm đang tháo vát, buôn bán hàng tơ lụa từ Bắc chí Nam, cuộc sống của các anh chị em trong gia đình bà Lê Phương (ở làng Võng Thị, Bưởi, Tây Hồ, Hà Nội, nay thuộc phường Tây Hồ, Hà Nội) không phải trải qua những tháng ngày khốn khó. Mặc dù có thời điểm, cha của bà bị phá sản, vỡ nợ nhưng mẹ bà lại bươn chải, chăm lo làm ăn, vực lại kinh tế gia đình.

Bà Lê Phương (sinh ngày 16/6/1928, bìa trái, hàng sau) cùng mẹ đẻ, chồng và 2 con gái
Những tưởng cuộc sống dư dả của gia đình bà cứ thế tất bật, cuốn theo những chuyến hàng trên hành trình ngược xuôi Nam Bắc nhưng ngọn lửa Cách mạng ngay từ trước năm 1945 lại dần nhen nhóm trong lòng những người dân yêu nước, trong đó có gia đình bà. Ngày ấy, bà Lê Phương kể, gia đình bà có ông Phong Hội, con người bác ruột ở quê ngoại của bà là làng Nghĩa Đô (nay thuộc phường Nghĩa Đô) tham gia Việt Minh. Ông cùng những người đồng chí của mình mang theo tài liệu, báo chí về nhà bà hội họp.
Được tiếp xúc với tư tưởng mới của những người cán bộ Việt Minh và đặc biệt là tờ báo Cứu quốc, đầu óc bà bỗng được mở mang, khai sáng. Bà hiểu rõ hơn về cứu quốc, độc lập, tự do, giải phóng phụ nữ... Bà cũng thấu hiểu một điều mà bấy lâu nay bà không thể nhận ra: Phụ nữ rất ít người được đi học, chỉ vất vả làm ăn, chăm chồng, nuôi con, chứ không được ra ngoài, tham gia hoạt động xã hội. Bản thân bà mặc dù gia đình có điều kiện cũng chỉ được học hết tiểu học bởi quan niệm phong kiến thời đó: Con gái học để làm gì? Mẹ bà tuy buôn bán rất giỏi nhưng cũng không được đi học, không biết chữ. Nhận thức được điều đó, bà như "chim xổ lồng", chỉ muốn "bay nhảy", tham gia việc làng, việc nước.
Những năm 1943-1944, phong trào Việt Minh dần lan rộng, từ làng Nghĩa Đô lan sang làng Võng Thị. Ngôi nhà của bố mẹ bà trở thành địa điểm an toàn cho cán bộ hoạt động vùng Bưởi - Nghĩa Đô, trong đó có ông Thôi Hữu - Thành ủy viên Thành ủy Hà Nội đến họp với cán bộ ngoại thành và cũng là nơi cất giấu truyền đơn, tài liệu của Ban Công vận Xứ ủy. Nhờ sớm được giác ngộ Cách mạng, anh trai, em trai và em gái của bà (tuy còn nhỏ tuổi) nhưng đã tích cực tham gia hoạt động. Bản thân bà tự đi tìm và gặp được các chị ở Đội Phụ nữ cứu quốc, được giao nhiệm vụ gây dựng phong trào, vận động chị em phụ nữ cùng quần chúng nhân dân đứng lên chống lại thực dân Pháp.
Bà Lê Phương có 1 anh trai, 1 em trai và 1 em gái đều tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm. Mỗi người đảm nhiệm một vị trí khác nhau.
Anh trai cả Nguyễn Xuân Trúc từng làm Bí thư Tỉnh ủy Hải Ninh, sau hòa bình lập lại được phân công giữ chức Vụ trưởng Vụ đối ngoại của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Em trai Nguyễn Xuân Bích là cán bộ quản lý của TTXVN. Bản thân bà khi về hưu là đại tá, Cục phó Cục Quản trị, Bộ Công an. Còn em gái của bà là Nguyễn Thị Thành Nhân, nguyên Trưởng ban Liên lạc cán bộ phụ nữ tham gia kháng chiến và tiếp quản Thủ đô, từng là Thành ủy viên, Giám đốc Công ty Ăn uống Hà Nội.
Cuối năm 1944 đầu năm 1945, bà được phân công phụ trách Đội Phụ nữ cứu quốc ở các làng Hồ Khẩu, Thụy Khê. Khí thế Cách mạng mỗi ngày một sục sôi. Lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đến, bà đã cùng đội quân phụ nữ vùng Bưởi hô vang khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh", rầm rập tiến về Nhà hát Lớn. Trong ngày trọng đại của đất nước, ngày Lễ Độc lập 2/9/1945, bà hồ hởi hòa vào biển người hướng về Quảng trường Ba Đình lịch sử - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau Cách mạng Tháng Tám, bà được cử làm Bí thư Phụ nữ cứu quốc khu Đại La. Lúc này, nhiệm vụ của bà là tuyên truyền, vận động nhân dân diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Bà đã tích cực tham gia phong trào bình dân học vụ, tự dạy chữ và tổ chức dạy chữ cho chị em phụ nữ, đồng thời đứng trước hàng trăm quần chúng tuyên truyền về chủ trương của Chính phủ Việt Minh về đánh đuổi Đế quốc Pháp. Tối đến, bà lại cùng chị em trong đội tuyên truyền xung phong viết và dán khẩu hiệu "Đả đảo Đế quốc Pháp, Đế quốc Pháp cút về Pháp" trên các bức tường dọc phố.

Bà Lê Phương (giữa) cùng với em trai Nguyễn Xuân Bích và em gái Nguyễn Thị Thành Nhân
Tối 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi tiếng súng vang dền phát hiệu lệnh tấn công, ánh đèn điện toàn thành phố vụt tắt, gia đình bà chia tay nhau, người ở lại nội thành cùng các đội tự vệ tiếp tục chiến đấu, người lên An toàn khu theo chủ trương trường kỳ kháng chiến của Trung ương.
"Lên thác xuống ghềnh", gắn bó với phong trào phụ nữ
Trong cuộc chiến kiên cường 60 ngày đêm (19/12/1946 - 17/2/1947) khói lửa giam chân địch trong thành phố của quân và dân Thủ đô nhằm đảm bảo cho Đảng, Chính phủ rút an toàn lên Chiến khu Việt Bắc, bà Lê Phương đã cùng Đội Phụ nữ cứu quốc tham gia tiếp viện lương thực, thực phẩm, thông chốt kiểm soát của Thực dân Pháp, liên lạc với các chiến sĩ tự vệ và Trung đoàn Thủ đô giữ vững các phòng tuyến. Năm 1947, sau khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, bà tiếp tục hoạt động ở khu vực ngoại thành.
Trong vai trò cán bộ tuyên huấn của Hội Phụ nữ Liên khu X - Hà Nội, bà cùng chị em vận động quần chúng tham gia đánh Pháp đuổi Nhật, tiêu thổ kháng chiến, tự phá hủy mọi điều kiện sinh hoạt, đào hào xây lũy để cản trở các phương tiện vận chuyển của giặc Pháp mở rộng, lấn chiếm ra khu vực ngoại thành.
Đồng thời, bà không ngại hiểm nguy men theo bờ sông Tô Lịch vào tiếp tế, cứu thương cho anh em ở Thụy Khê. "Ngày đó, hai bên bờ sông, người dân trồng rất nhiều rau bắp cải, chúng tôi nhổ về để nấu cơm tiếp tế cho anh em", "Anh em bị thương nhiều lắm, mặc dù còn trẻ nhưng tôi không quản ngại chăm sóc cho thương binh" - bà Lê Phương kể.

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Anh hùng LLVTND, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, trao Kỷ niệm chương vì có nhiều thành tích, đóng góp trong phong trào phụ nữ cho bà Lê Phương
Đầu năm 1948, theo sự phân công của Thành ủy Hà Nội, bà Lê Phương rời gia đình đi kháng chiến. Bà được cử làm Bí thư Hội Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Yên Bái. Trên đường đi đến Phú Thọ, rồi lên Yên Bái, trải qua những ngày tháng băng rừng lội suối, những đêm lạnh thấu xương, vắt muỗi, chấy rệp nhiều vô kể nhưng không gì cản nổi bước chân của người con gái Hà thành. "Tôi nhớ mãi lần đầu nghe tiếng kêu rền rĩ của con chim thủ thỉ thù thì vào ban đêm, tiếng hót trầm vang, ngân dài của loài chim bắt cô trói cột hay tiếng thác đổ ầm ầm vang vọng từ xa. Rồi những trận ốm rụng gần hết tóc nhưng tôi vẫn cứ đi" - bà Lê Phương nhớ lại. Lên Yên Bái, bà hăng hái đi gây dựng phong trào phụ nữ ở Văn Chấn - huyện giáp ranh với vùng Nghĩa Lộ - nơi giặc Pháp chiếm đóng.
Tại đây, bà thâm nhập vào cuộc sống của đồng bào vùng cao, vận động chị em ngày lên nương rẫy, tối về thắp đèn dầu tràm lên học chữ. Thông qua lớp học chữ, bà tuyên truyền tinh thần chống Pháp, chống biệt kích, chuẩn bị hậu cần cho mặt trận Tây Bắc. Mỗi ngày bà phải đi bộ một mình cả chục cây số đường rừng núi âm u từ xã này sang xã khác nhưng với một lòng sắt son theo Đảng, sáng ngời lý tưởng Cách mạng, bà vẫn rất vui. Bởi đi đến đâu bà cũng được dân nuôi. Nhờ dân đùm bọc, che chở, bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Đầu năm 1950, bà được cấp trên cử đi học chính trị cao cấp khóa I do Trung ương tổ chức rồi được chọn về làm công tác chuẩn bị cho Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 14 đến 29/4/1950 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. "Tại đây, tôi được gặp chị Lê Thị Xuyến, Hội trưởng đầu tiên của Hội LHPN Việt Nam; chị Đinh Thị Cẩn, nguyên Ủy viên Ban Phụ vận TƯ, nguyên Phó Bí thư Đảng Đoàn TƯ Hội LHPN Việt Nam... Ở Đại hội lần này, tôi cũng vinh dự được chứng kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự, phát biểu, trò chuyện cùng chị em" - bà Lê Phương kể.
Đến cuối năm 1952, Nha Công an TƯ (nay là Bộ Công an) đã chọn một số cán bộ Thành ủy Hà Nội, trong đó có bà về làm công tác tuyên huấn và đào tạo tại trường Trung cấp Công an (tiền thân của trường Công an TƯ T1) - nơi tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ lãnh đạo công an từ các tỉnh Nghệ An trở ra và về tổ chức ngành Công an trong tình hình mới. Từ đây, bà trải qua nhiều vị trí công tác nhưng chị em trong cơ quan nhớ đến bà nhiều nhất là vai trò người Bí thư đầu tiên Hội Phụ nữ của Bộ Công an - người luôn gương mẫu đi đầu với phong cách "miệng nói, tay làm, chân đi" và là một người lãnh đạo sắc sảo, thông minh, tâm lý và luôn quan tâm chăm lo đời sống cho chị em.
Trong những năm 1955-1960, miền Bắc bước vào công cuộc khôi phục kinh tế và tiếp tục xây dựng CNXH, cuộc sống của mọi người dân đều vất vả, thiếu thốn, người phụ nữ CAND mang thiên chức làm mẹ vẫn gánh vác nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu trên mọi lĩnh vực. Với kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và hiểu được vị trí, vai trò cũng như những thuận lợi, khó khăn của cán bộ nữ, bà Lê Phương chủ động xây dựng các phong trào phụ nữ Công an chống Mỹ cứu nước; động viên, hướng dẫn để chị em sắp xếp công việc gia đình, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bà Lê Phương cùng con gái Nguyễn Thị Thục tại nơi ở hiện nay
Khi cán bộ chiến sĩ nữ tăng dần, bà chủ động làm việc với Hội LHPN Việt Nam, xin ý kiến chỉ đạo của Hội và đề xuất với Bộ trưởng thành lập Ban Công tác nữ chuyên trách của Bộ Công an. Bà trở thành Bí thư Phụ nữ đầu tiên của Hội Phụ nữ Bộ Công an.
Cả cuộc đời đi theo Cách mạng, gắn bó mật thiết với phong trào phụ nữ qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, ở tuổi 100, hàng ngày bà Lê Phương vẫn đọc báo, lướt mạng, theo dõi thời sự để nắm bắt tình hình của đất nước. Bà bảo có lẽ sự lạc quan, tinh thần thư thái, an yên đã giúp bà sống vui đến ngày hôm nay. Bà cũng bảo, bà cảm thấy cuộc đời của mình dường như đã trọn vẹn bởi nhờ có Cách mạng, bà đã được học lên cao, được tham gia hoạt động xã hội và cống hiến hết mình cho đất nước.
