Bình dân học vụ số: Từ biết dùng đến làm chủ công nghệ
Trong kỷ nguyên số, học tập suốt đời đang có thêm một không gian mới, đó là môi trường số. Phong trào “Bình dân học vụ số” mở rộng cơ hội để người dân tiếp cận tri thức, làm chủ công nghệ và thích ứng với những thay đổi của đời sống hiện đại.

Đoàn viên thanh niên hướng dẫn người dân sử dụng máy tính. (Nguồn: VGP)
Lớp học mở cho mọi người
Từ những lớp học bình dân học vụ để xóa mù chữ sau ngày đất nước giành độc lập, đến những lớp học trên nền tảng số hôm nay là một khoảng cách rất dài. Công cụ đã thay đổi, nhu cầu của người học cũng khác nhưng mục tiêu căn bản vẫn là mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho mọi người dân.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc CMCN 4.0 diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng xã hội học tập không còn dừng ở mở rộng trường lớp hay các trung tâm giáo dục thường xuyên. Người dân cần có thêm một không gian học tập mới - không gian số - nơi kiến thức có thể được tiếp cận nhanh hơn, linh hoạt hơn và không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Đó cũng là lý do “Bình dân học vụ số” được triển khai trên phạm vi cả nước.
Xây dựng xã hội học tập là chủ trương xuyên suốt của Đảng, Nhà nước, nhằm tạo cơ hội để mọi người dân được học tập bình đẳng, thường xuyên và suốt đời, qua đó phát triển toàn diện bản thân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Từ năm 2005, Đề án “Xây dựng xã hội học tập” đã góp phần nâng cao dân trí, phát triển mạng lưới giáo dục thường xuyên theo hướng mở, thúc đẩy phong trào khuyến học và tạo thêm cơ hội học tập cho người dân.
Đến giai đoạn hiện nay, yêu cầu ấy có thêm một nội dung mới, đó là học để thích ứng với chuyển đổi số. Năm 2026 đánh dấu 5 năm triển khai Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030. Theo các kết quả được công bố, cả nước đã huy động hơn 261,3 nghìn người tham gia học xóa mù chữ; hơn 40,6 triệu người trong độ tuổi lao động được trang bị năng lực thông tin, đạt 50,76%; hơn 39,9 triệu người được trang bị kỹ năng sống, đạt 49,97%; hơn 37,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, đạt 47,3%...
Những kết quả này cho thấy việc học tập đã không còn bó hẹp trong nhà trường. Nhưng khi công nghệ trở thành một phần của đời sống, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để cơ hội tiếp cận kỹ năng số cũng được mở rộng đến những người vốn ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ.
Nền tảng học tập trực tuyến quốc gia “Bình dân học vụ số” được đưa vào vận hành trên phạm vi cả nước từ đầu tháng 4/2025 chính là một cách tiếp cận cho bài toán đó. Mục tiêu của nền tảng là phổ cập kiến thức, kỹ năng số cơ bản cho toàn dân, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; giúp người dân làm chủ công nghệ, tiếp cận dịch vụ số và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phong trào cũng được triển khai ở nhiều ngành, địa phương. Quốc hội đặt mục tiêu 100% cán bộ, đại biểu được cấp chứng chỉ “Bình dân học vụ số - Quốc hội số” trong năm 2026 và đạt chuẩn kỹ năng số trên nền tảng VNeID. Lực lượng công an nhân dân tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyển đổi số cho cán bộ, chiến sĩ tại cơ sở, tập trung vào hạ tầng số, quy trình số và bảo mật thông tin.
Tại nhiều địa phương, các mô hình “Công dân học tập”, “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Bình dân học vụ tiếng Anh” tiếp tục được triển khai. TP. Hồ Chí Minh gắn mô hình Thành phố học tập với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thích ứng chuyển đổi số.
Trong khi đó, TP. Hà Nội cũng xác định tuyên truyền “Bình dân học vụ số” là nhiệm vụ trọng tâm theo Kế hoạch số 57-KH/BTGDVTU, hướng tới phổ cập tri thức, kỹ năng số đến các tầng lớp nhân dân, hình thành thói quen học tập số và xây dựng công dân số Thủ đô. Những hoạt động này cho thấy “Bình dân học vụ số” đang được nhìn nhận không chỉ như một chương trình đào tạo kỹ năng, mà là một bộ phận của quá trình xây dựng xã hội học tập trong điều kiện mới.

Hướng dẫn người dân sử dụng thiết bị công nghệ, mạng máy tính làm thủ tục hành chính tại xã Sóc Sơn (Hà Nội). (Ảnh: Phạm Hùng)
Học để không đứng ngoài đời sống số
Điều dễ nhận thấy nhất từ chuyển đổi số là tốc độ thay đổi của đời sống. Một thủ tục hành chính có thể được thực hiện trực tuyến. Hay một lớp học có thể diễn ra qua màn hình. Một người lao động có thể học thêm kỹ năng mới mà không cần rời nơi làm việc... Nhưng cùng với những thuận lợi ấy là khoảng cách về kỹ năng số.
Nếu không có khả năng sử dụng công nghệ, một bộ phận người dân có nguy cơ gặp khó khăn ngay trong những công việc vốn rất quen thuộc của đời sống. Vì vậy, phổ cập kỹ năng số cũng cần được nhìn như một nội dung của phổ cập tri thức trong thời đại mới.
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cho thấy yêu cầu tận dụng công nghệ số như phương tiện hỗ trợ mạnh mẽ cho tự học, học tập suốt đời; lấy giáo dục số, học liệu số, thư viện số và các nền tảng học trực tuyến mở đại chúng làm nền tảng.
Ưu thế của mô hình học tập số nằm ở khả năng mở rộng cơ hội tiếp cận. Một người dân ở vùng sâu, vùng xa, nếu có thiết bị và kết nối internet vẫn có thể tiếp cận cùng một khóa học với người học ở các đô thị lớn. Việc học cũng có thể linh hoạt theo thời gian, không nhất thiết phụ thuộc vào địa điểm tổ chức lớp.
Với giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời, đây là thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, công nghệ không tự động xóa bỏ khoảng cách. Trái lại, nếu hạ tầng và kỹ năng không đồng đều, khoảng cách số có thể trở thành một rào cản mới. Thực tế vẫn còn sự chênh lệch về hạ tầng công nghệ giữa các vùng miền; một số địa bàn thiếu giáo viên cục bộ, cơ sở vật chất chưa đồng bộ. Không phải người dân nào cũng có thiết bị, đường truyền hoặc đủ kỹ năng để tự học trên môi trường số.
Bởi vậy, bài toán của “Bình dân học vụ số” không chỉ là có bao nhiêu khóa học hay bao nhiêu lượt truy cập. Quan trọng hơn là người dân học được gì và có thể sử dụng kiến thức ấy vào đâu.
Nhiều chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách; ưu tiên đầu tư hạ tầng và học liệu số ở những địa bàn khó khăn; gắn nội dung đào tạo với nhu cầu thiết thực của từng nhóm dân cư. Cùng với đó là tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu rõ ý nghĩa của học tập suốt đời, từ đó hình thành thói quen học tập số trong đời sống thường nhật.
Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu về nội dung. Người cao tuổi có thể cần những bài học rất cơ bản về sử dụng điện thoại thông minh, nhận diện thông tin giả, bảo vệ tài khoản. Người lao động cần kỹ năng phục vụ công việc. Người dân ở nông thôn có thể cần kiến thức về dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử hay ứng dụng công nghệ trong sản xuất.
Nói cách khác, phong trào “Bình dân học vụ số” chỉ thực sự “bình dân” khi người học tìm thấy trong đó những kiến thức gần với công việc và cuộc sống của mình. Đích đến của phong trào cũng không nên chỉ dừng ở việc mỗi người biết sử dụng một vài ứng dụng. Điều quan trọng hơn là hình thành năng lực tự học và khả năng thích ứng.
Trong một thế giới mà công nghệ liên tục thay đổi, không thể dự đoán chính xác người lao động sẽ cần những kỹ năng nào trong 5 hay 10 năm tới. Nhưng có thể chuẩn bị cho họ khả năng học một kỹ năng mới khi cần thiết, đó chính là giá trị lâu dài của xã hội học tập. Từ góc nhìn này, “Bình dân học vụ số” không phải một phong trào chỉ dành cho những người chưa biết sử dụng công nghệ. Nó là lời nhắc rằng trong kỷ nguyên số, học tập đã trở thành một năng lực cần thiết của mỗi công dân.
Vì thế, xây dựng xã hội học tập số không chỉ nhằm nâng cao tri thức mà còn mở rộng cơ hội để người dân tham gia đầy đủ hơn vào đời sống hiện đại. Khi cơ hội học tập được mở rộng, khoảng cách tiếp cận tri thức được thu hẹp, nguồn nhân lực có thêm khả năng thích ứng, xã hội cũng có thêm nền tảng để phát triển.
Dưới góc nhìn của mình, GS. TS. Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế trong dòng chảy mạnh mẽ của chuyển đổi số, vẫn còn nhiều “vùng trũng” về năng lực số. Đó là người cao tuổi không thể tự mình sử dụng dịch vụ công trực tuyến; là người lao động phổ thông dễ bị tổn thương trước các rủi ro an ninh mạng; là người khuyết tật gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ; là những người dân ở vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện tiếp cận tri thức số.
Theo ông Sơn, điểm đáng suy ngẫm là trong khi công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt, thì khả năng “đi cùng nhau” của xã hội lại chưa tương xứng. Điều này đặt ra một câu hỏi mang tính đạo lý: Tri thức có phải chỉ là đặc quyền của một nhóm người, hay là tài sản chung cần được chia sẻ?
“Tinh thần của bình dân học vụ dù ở dạng truyền thống hay số đều trả lời rõ ràng: Tri thức phải được phổ cập, phải được phổ biến công bằng. Đó không còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp sản xuất công nghệ hay của những tổ chức xã hội mà là trách nhiệm của cộng đồng, nhất là những tri thức trẻ với nhiều hoài bão và tâm huyết. Vai trò của giáo dục, đặc biệt là các trường sư phạm trở nên hết sức quan trọng. Không chỉ đào tạo giáo viên mà còn phải đào tạo những 'tác nhân lan tỏa tri thức' - những con người sẵn sàng mang tri thức đến với cộng đồng”, GS. Huỳnh Văn Sơn nhấn mạnh.
Bởi theo GS. Huỳnh Văn Sơn, đã đến lúc chúng ta không chỉ nói về chuyển đổi số như một mục tiêu, mà phải sống với nó như một trách nhiệm.
Có thể nói, từ lớp học xóa mù chữ đến lớp học số là một sự tiếp nối về tinh thần đưa tri thức đến gần hơn với người dân. Ngày nay, lớp học ấy có thể nằm trên một chiếc điện thoại. Nhưng để “cánh cửa” thực sự mở ra với tất cả mọi người, phía sau nền tảng công nghệ vẫn cần sự đồng hành của nhà trường, cộng đồng và chính bản thân mỗi người học. Một xã hội học tập chỉ thực sự được hình thành khi việc học trở thành nhu cầu tự nhiên của mỗi người trên hành trình phát triển.
