Biểu tượng của ý Đảng, lòng dân và khát vọng đổi đời

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc, hướng tới kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2.9, Hà Tĩnh tự hào nhìn lại một biểu tượng lớn của thời kỳ kiến thiết: Công trình Đại thủy nông Kẻ Gỗ.

Giấc mơ này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gieo mầm từ năm 1957, khi Người về thăm Hà Tĩnh và căn dặn: “Phải lục hồ sơ Kẻ Gỗ mà nghiên cứu trước đi, để khi có thời cơ là xây dựng”. Gần 20 năm sau, thời cơ ấy đã đến, ngày 26.3.1976, chưa đầy một năm sau ngày đất nước thống nhất, hàng vạn con người từ khắp Nghệ - Tĩnh đã cùng nhau khởi công dựng nên kỳ tích thủy lợi mang tầm vóc quốc gia, hiện thân của ý chí vượt khó, tinh thần đoàn kết và khát vọng đổi đời, mở ra kỷ nguyên hồi sinh cho nông nghiệp Hà Tĩnh và cả vùng Bắc Trung Bộ.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, Kẻ Gỗ vẫn lặng thầm chảy, tưới mát đồng khô cỏ cháy, bồi đắp giấc mơ no đủ cho những miền quê từng đói nghèo, khát nước. Tuyến bài 4 kỳ là hành trình dựng nên kỳ tích thủy lợi giữa thời bình, nhìn lại dấu ấn Kẻ Gỗ trong công cuộc đổi thay của quê hương và khắc họa những con người đã hóa thân vào công trình như một phần lịch sử không thể quên.

Dòng nước hồ Kẻ Gỗ đã tưới mát ruộng đồng, xóa đói nghèo cho Hà Tĩnh

Dòng nước hồ Kẻ Gỗ đã tưới mát ruộng đồng, xóa đói nghèo cho Hà Tĩnh

Nửa thế kỷ trước, giữa muôn vàn khó khăn của thời kỳ hậu chiến, hàng vạn con người từ khắp Nghệ - Tĩnh đã hành quân về vùng rừng hoang Cẩm Mỹ để dựng nên một kỳ tích: Hồ Kẻ Gỗ - công trình thủy lợi mang tầm vóc quốc gia. Không chỉ là một hồ chứa nước, Kẻ Gỗ trở thành biểu tượng của khát vọng hồi sinh, của ý Đảng hợp với lòng dân trong hành trình kiến thiết quê hương.

Giấc mơ lớn từ câu căn dặn của Bác Hồ

Ngày 26.3.1976, ngày khởi công công trình đại thủy nông Kẻ Gỗ, là dấu mốc khắc sâu trong ký ức người Hà Tĩnh. Từ miền ngược đến miền xuôi, hàng vạn con người đã hội tụ về Cẩm Mỹ (huyện Cẩm Xuyên cũ), nơi rừng thiêng nước độc, để viết nên bản anh hùng ca thời bình: “Xẻ núi, ngăn sông”, dựng hồ Kẻ Gỗ!

Cờ đỏ rợp trời, tiếng hò reo vang dội. Những bàn tay trai trẻ, thanh niên xung phong, công nhân, nông dân, tay cuốc, tay xẻng, tay gánh, tay đào, cùng nhau mở kênh mộng ước. Họ dựng lán tranh, ăn cơm độn, chia nhau từng lon gạo, nắm muối trắng… Khát vọng “xóa đồng khô cỏ cháy, thắng hạn hán khắc nghiệt quanh năm” đã trở thành động lực lớn lao để những giọt mồ hôi hóa thành từng mét kênh dẫn thủy. Một công trình hồ chứa nước 346 triệu mét khối đã ra đời từ chính ý chí “thay trời đổi đất” ấy.

Giấc mơ về một hồ thủy lợi tại vùng Kẻ Gỗ không phải đến lúc đó mới xuất hiện. Từ đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nhìn thấy nơi đây là địa hình lý tưởng để kiến tạo một hồ chứa lớn cho miền Trung khô hạn. Nhưng chiến tranh, bom đạn, nghèo khó đã đẩy giấc mộng ấy trôi dần vào quá khứ. Mãi đến năm 1957, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hà Tĩnh, căn dặn: “Phải lục hồ sơ Kẻ Gỗ mà nghiên cứu trước đi, để khi có thời cơ là xây dựng” thì hạt mầm niềm tin mới được gieo lại.

Cuối năm 1958, Bộ Thủy lợi và Kiến trúc bắt đầu các đợt khảo sát, đo đạc, nghiên cứu thiết kế sơ bộ. Tất cả hồ sơ ấy được cẩn thận cất giữ, chờ đợi thời cơ chín muồi. Ngày 23.12.1974, Chính phủ chính thức phê duyệt xây dựng hồ chứa nước Kẻ Gỗ bằng Quyết định số 318/TTg, giữa lúc cả nước đang chuẩn bị tổng tiến công giải phóng miền Nam.

Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 6.1975, tỉnh Nghệ Tĩnh đã thành lập các công ty xây dựng thủy lợi và trung đoàn thanh niên xung phong. 2.600 đội viên từ các tổng đội N40, N53, N55, N299 hành quân về Cẩm Xuyên, Thạch Hà, dựng lán, khai thác vật liệu, giải phóng mặt bằng. Bộ Thủy lợi huy động các đơn vị mạnh nhất, từ công ty, viện nghiên cứu, trường đại học cho đến các kỹ sư đầu ngành cùng vào công trường Kẻ Gỗ.

Hòa trong không khí đó, ông Đào Văn Ký (SN 1948, trú phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An), khi ấy là cán bộ kỹ thuật của Công ty Thủy lợi 4, nhận lệnh vào Cẩm Xuyên tham gia công trình đại thủy nông.

“Ngày đó, mọi thứ vô cùng khó khăn. Người dân địa phương chỉ mới dựng lán trại, dọn dẹp khu vực đầu mối, còn đập chính, đập tràn và ba đập phụ cùng các cầu máng như Cầu Na là do đơn vị chúng tôi phụ trách. Chúng tôi đảm nhận một nửa đập chính cùng toàn bộ các hạng mục lớn nhất”, ông Ký nhớ lại.

Trong ký ức người cán bộ kỹ thuật, ông nhớ nhất là không khí công trường vừa vất vả vừa rộn rã. Người dân Cẩm Xuyên, Thạch Hà phấn khởi đem gà, cá biển lên tiếp tế cho lực lượng thi công. Hôm nào được cấp mì sợi, ông lại trực tiếp phát cho anh em làm ca đêm. Máy móc rền vang, công nhân thay nhau làm liên tục ngày đêm không nghỉ. Đến năm 1978, đập cơ bản hoàn thành. Năm đó, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm, đã có những chia sẻ, động viên và tình cảm đặc biệt dành cho người dân Hà Tĩnh. Cố tổng Bí thư phát biểu 20 phút nhưng bà con hăng say hưởng ứng tới 40 phút. Trên đường ra xe, cố Tổng Bí thư còn ghé xã Cẩm Duệ, tặng 100 bộ quần áo cho các cụ cao tuổi.

“Hồi ấy, voi, lợn rừng còn nhiều trong lòng hồ, người dân thì hết sức nhiệt tình. Một hợp tác xã ở Thạch Hà còn xây hẳn một căn nhà tặng công nhân Kẻ Gỗ. Người dân, công nhân kỹ thuật hồ hởi khí thế, làm ngày làm đêm luân phiên không nghỉ. Vài ba tháng tôi lại đạp xe quãng đường 120 km từ Hà Tĩnh về Vinh thăm vợ con. 4h sáng đi đến 16h chiều mới đến nhà, ở được một đêm với gia đình rồi sáng sớm hôm sau lại đạp xe vào công trường. Vất vả là thế nhưng niềm vui và tự hào thì không gì so sánh được”, ánh mắt ông Ký ánh lên hồi tưởng.

Ông Đào Văn Ký - nguyên cán bộ kỹ thuật Công ty Thủy lợi 4, hồi tưởng lại không khí trên công trường đại thủy nông Kẻ Gỗ ngày ấy

Ông Đào Văn Ký - nguyên cán bộ kỹ thuật Công ty Thủy lợi 4, hồi tưởng lại không khí trên công trường đại thủy nông Kẻ Gỗ ngày ấy

Kỳ tích dựng nên từ mồ hôi, nước mắt và máu

Chỉ trong hơn ba năm, thay vì sáu năm như dự kiến, đại công trình đã được hoàn thành. Đó là kỳ tích hiếm có trong điều kiện thiếu thốn đủ bề: Không máy móc hiện đại, thiếu lương thực, thuốc men, thiếu cả kinh nghiệm xây dựng công trình quy mô lớn.

Hồ Kẻ Gỗ có đập chính dài gần 3 km, ba đập phụ, một cống dưới đập với thiết bị nâng 100 tấn, tràn xả lũ Dốc Miếu lưu lượng 1.070m³/s, trạm thủy điện công suất 2.100 kW và hệ thống kênh chính, kênh cấp 1 đến cấp 3 chằng chịt gần 1.000 km phủ khắp Cẩm Xuyên, Thạch Hà và TP Hà Tĩnh.

Tổng khối lượng công việc mà công nhân, cán bộ kỹ thuật, người dân Nghệ Tĩnh đã thực hiện: Hơn 10 triệu m³ đất đá đào đắp; 90.000m³ bê tông; 1.800 tấn thép; 1.200 tấn thiết bị cơ khí… Vượt lên con số là những con người, họ làm việc không ngừng nghỉ, ăn cơm độn, ngủ lán tranh; mỗi ngày cần ít nhất 7,5 tấn gạo và 3.000 lít nước mắm để nuôi 15.000 lao động, chưa kể dầu đèn, áo quần, thuốc men…

Trong cuốn hồi ký về hồ Kẻ Gỗ, kỹ sư Phạm Xuân Sinh - nguyên Giám đốc Sở Thủy lợi tỉnh Nghệ Tĩnh viết: “Có tuần tôi ngủ ngay mép đập, sáng dậy thấy áo mình phủ đầy sương. Kỹ sư không có thước đo, phải dùng dây dù và tay để kiểm tra độ cao kênh dẫn. Mỗi mét đất đắp lên là một cuộc chiến với đá núi và thời tiết”.

Hàng loạt vấn đề kỹ thuật phát sinh: Thấm nền đập, mạch đùn, kênh băng qua núi đá… nhưng không gì ngăn nổi tinh thần tiến công. Những nhà khoa học, kỹ sư, thợ thủ công, thanh niên xung phong… đã xử lý mọi vấn đề bằng trí tuệ và lòng quả cảm. Công trường không chỉ có cuốc xẻng mà còn có lời ca tiếng hát. Những đêm giao lưu, tiếng hát vang giữa đại ngàn như tiếp thêm lửa.

Bài hát Người đi xây hồ Kẻ Gỗ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý trở thành lời hiệu triệu lay động hàng vạn con tim. Lời ca Đàn em nhỏ tắm mát quanh năm...” đã trở thành niềm tin sống động vào tương lai tươi sáng.

Đằng sau kỳ tích ấy là mồ hôi, nước mắt và cả máu. Hàng trăm người đã ngã xuống hoặc mang thương tật suốt đời nơi lòng hồ Kẻ Gỗ. Đến nay, đại đa số những người công nhân, kỹ sư, cán bộ lãnh đạo từng tham gia xây dựng hồ Kẻ Gỗ đã khuất núi hoặc đã bạc trắng mái đầu, song ký ức một thời tuổi trẻ “ngăn sông, xẻ núi” vẫn còn nguyên trong ánh mắt. Họ đã dựng lên không chỉ một công trình, mà một biểu tượng của niềm tin và khát vọng đổi đời. Gần 50 năm sau, Kẻ Gỗ không còn chỉ là hồ chứa nước. Nó là biểu tượng sống động cho ý Đảng - lòng dân - trí tuệ Việt.

(Còn tiếp)

NGÂN HÀ

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/doi-song/bieu-tuong-cua-y-dang-long-dan-va-khat-vong-doi-doi-164728.html
Zalo