Bánh đúc ngày mưa
Bánh đúc ở quê tôi là một món ăn dân dã, quen thuộc, xuất hiện trong những mâm cúng mụ, đầy tháng cho trẻ, những mâm cúng chúng sinh ngày rằm hay những buổi liên hoan phường, họ... Nhưng có lẽ, ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là nồi bánh đúc được nấu vào những ngày mưa.
Những ngày mưa, nông dân không đi làm đồng được. Vì vậy, mọi người thường tập trung ở nhà làm những việc như đan lát, thêu thùa, may vá. Lúc nông nhàn cũng là dịp để các bà, các mẹ nghĩ cách cải thiện bữa ăn gia đình. Nấu một nồi bánh đúc là một trong những việc các bà, các mẹ hay nghĩ đến.

Tranh minh họa.
Mỗi lần thấy mẹ bảo ngâm gạo làm bánh đúc, chị em tôi hào hứng đi lấy chậu nhôm, đong gạo vào, vo cẩn thận rồi đổ nước ngập để ngâm. Trong khi chờ gạo mềm, chúng tôi tranh thủ làm hết việc nhà.
Xưa, ở quê tôi, hầu như mỗi nhà đều có một chiếc cối xay bằng đá. Sau khi ngâm, gạo được đãi sạch rồi mang đi xay. Chiếc cối đá đặt trên bậc thềm cao, hai chị em tôi ngồi hai bên, cùng chung tay kéo cối. Việc xay bột không chỉ tốn sức mà còn cần sự kiên nhẫn, tỉ mỉ và ăn ý trong cách dùng lực của cả hai người. Chúng tôi, người kéo, người đẩy nhịp nhàng để cho cối quay đều. Tôi gạt một chút gạo xuống cái hõm của cối, chị nhẹ tay cầm muôi múc canh, khẽ rảy một chút nước vào cho cối trơn. Bột nước chảy rí rách xuống chiếc chậu nhôm to hứng ở bên dưới. Mồ hôi chúng tôi khẽ chảy theo hai bên tóc mai, nhỏ xuống bậc thềm. Khi toàn bộ gạo được xay xong, trở thành một chậu bột nước trắng nõn nà thì lưng áo của chúng tôi cũng đã ướt đẫm.
Mẹ chất một đám củi tre khô lên bếp, đặt chiếc nồi gang cỡ 60 lên rồi nhóm lửa, quết quanh đáy nồi một lớp mỡ lợn mỏng. Sau đó, mẹ đổ chỗ bột nước đã được pha cùng chút nước vôi trong vào nồi, lấy chiếc đũa cả, loại chuyên dùng để nấu cỗ, khẽ khuấy đều. Sau chừng 15 - 20 phút, bột trong nồi bắt đầu sánh dần lại. Lúc ấy mẹ không thể ngồi mà phải đứng lên, khẽ khom lưng mới khuấy được. Những giọt mồ hôi rịn ra trên khuôn mặt nhưng mẹ vẫn đều tay, bởi đây là lúc quan trọng nhất để bánh chín đều, không bị vón cục và cháy khét đáy nồi. Cứ khuấy đều tay như vậy đến khi bánh dẻo, sánh lại, nhấc chiếc đũa cả lên, thấy những sợi bột chảy xuống chậm rãi, kéo thành sợi dài, màu bột trong, nghĩa là bánh đúc đã chín.
Ấy là thứ bánh đúc chay. Nếu làm bánh đúc lạc thì sẽ phức tạp hơn một chút vì ngoài khâu chuẩn bị bột còn phải chuẩn bị thêm lạc. Lạc được ngâm cho ngấm nước, vo sạch rồi hầm nhừ. Khi bột trong nồi bắt đầu sánh thì đổ lạc vào khuấy cùng. Cuối cùng, những hạt lạc đỏ au nằm xen kẽ giữa những thớ bột trắng, trông rất bắt mắt. Khi ăn, bánh đúc kết hợp với vị bùi của lạc mang lại một dư vị rất ngon.
Trong khi mẹ khuấy bánh đúc, chúng tôi ra vườn chặt vài tàu lá chuối bánh tẻ để chuẩn bị đổ bánh. Lá chuối được mang rửa sạch, khẽ hơ trên bếp lửa cho mềm đi rồi lau lại bằng giẻ khô, sạch. Xong xuôi, chúng tôi ngồi bên giúp đưa củi vào bếp, vừa trò chuyện ngóng chờ bánh chín. Những dòng nước mưa tí tách chảy từ mái bếp xuống như một tấm rèm che, giữ cho đám khói bếp là là trên bậu cửa sổ, quanh quẩn mãi tựa như chẳng muốn bay lên. Vị khói đậm hơn nhiều so với ngày thường, vương cả vào đầu tóc, áo quần. Tiếng mưa rơi hòa cùng tiếng nói cười, tiếng củi cháy tí tách, tạo nên một thứ âm thanh mà tôi vẫn nhớ mãi đến tận bây giờ.
Sau khi bánh chín, mẹ nhanh tay dùng chiếc bát tô to, múc từng bát đầy rồi đổ ra những chiếc sàng, chiếc mâm đã được lót lá chuối. Mẹ lấy đũa cả gạt nhẹ, bánh dạt đều ra thành những phên mỏng chừng 2 - 3 cm.
Khi nồi bánh đúc được đổ hết ra các mâm, các sàng, lũ trẻ chúng tôi sung sướng cùng nhau cạy cháy bánh đúc. Lớp bột lắng lại dưới đáy nồi trong quá trình khuấy bánh đúc, tạo thành một lớp cháy dày, thơm bùi, hấp dẫn. Thường thì mẹ lấy cái thìa to, gạt trước một đường, lấy ra một miếng cháy cho chúng tôi. Sau đó, chị em tôi tự thò tay vào cạy từng mảng cháy ăn ngon lành. Chị em tôi răng khỏe sẽ ăn phần cháy giòn tan ở đáy nồi. Bà và mấy đứa em nhỏ răng yếu thì ăn phần cháy ở cạnh nồi, chỗ ấy non hơn, mềm hơn. Ngồi trong căn bếp vương mùi khói, vừa ngắm mưa giăng mắc ngoài sân, vừa nhâm nhi món cháy bánh đúc chấm mắm ớt hoặc tương gừng, thật là thú vị.
Phần bánh đúc đổ ra mâm, ra sàng, khi nguội sẽ tự róc ra khỏi lá chuối, thành những phên bánh tròn trịa, trơn nhẵn, rất bắt mắt. Mẹ lấy dao cắt thành những miếng vuông vức rồi xếp vào đĩa, vào bát. Cũng có những lúc mẹ để nguyên một sàng bánh đúc như vậy đến ngày hôm sau mới mang ra cắt, vì mẹ cho rằng như vậy sẽ ít bị thiu hơn.
Nồi bánh đúc đổ ra vài mâm, vài sàng nhưng hôm trước hôm sau là sẽ hết veo, bởi có đến quãng một nửa trong số đó được mang biếu bà ngoại và biếu chú bác, cô dì ở gần nhà. Và cũng không ít lần, vào một ngày mưa nào đó, nhà tôi lại nhận được một bát bánh đúc từ nhà cô dì, chú bác. Vậy nên, bánh đúc ngày mưa còn là món quà của lòng thảo, của tình thân.
Giờ đây, công nghiệp hóa, chuyên môn hóa rất sâu, món bánh đúc ngày nào cũng có thể ăn chứ không cần chờ đến giỗ chạp, phường họ hay lúc nông nhàn ngày mưa gió. Có điều, nếu muốn ăn cháy bánh đúc thì không hề dễ. Mỗi khi muốn ăn, tôi cần điện thoại đặt trước với chị bán hàng đầu phố. Trăm hay không bằng tay quen nên bánh đúc chị làm rất khéo léo, vừa vặn. Ngon là thế nhưng với tôi, món bánh đúc của chị vẫn chưa thực sự tròn vị như bánh đúc ngày xưa. Có lẽ, nó thiếu chút mùi khói bếp ngày mưa và vị mặn của những giọt mồ hôi vương trên khóe mắt.
