'Bang tá Trạc' và khí phách của bậc sĩ phu
Lê Viết Trạc còn được biết đến với tên gọi 'Bang tá Trạc' - người con ưu tú của làng quê Mỹ Đà, xã Hoằng Hóa (trước đây là xã Hoằng Đức) đã có nhiều đóng góp trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX.

Làng Mỹ Đà - quê hương của “Bang tá Trạc”.
Lê Viết Trạc là con trai cụ Lê Viết Huy - người từng giữ chức Bố chính Nghệ An. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn chia thành hai phe chủ chiến và chủ hòa, cụ Lê Viết Huy đã từ quan về quê hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp của vua Hàm Nghi. Cụ Lê Viết Huy đã liên lạc với Phó bảng Nguyễn Đôn Tiết để cùng nhau tổ chức lực lượng chống thực dân Pháp. Bấy giờ, con trai cụ là Lê Viết Trạc, dù còn trẻ tuổi song đã sát cánh cùng cha trong phong trào đấu tranh.
Sinh ra trong gia đình nền nếp, từ nhỏ Lê Viết Trạc đã được dạy dỗ, rèn giũa nghiêm khắc. Dưới sự dìu dắt của cha, Lê Viết Trạc nhanh chóng trở thành một trong những người có đóng góp quan trọng trong phong trào. Một trong những trận đánh lớn đầu tiên Lê Viết Trạc tham gia là trận tập kích vào phủ lỵ Hoằng Hóa- nơi quân Pháp chiếm đóng.
Tháng 5/1886, lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa quyết định tập kích vào phủ lỵ Hoằng Hóa. Theo kế hoạch, ngoài lực lượng nghĩa quân Hoằng Hóa thì còn có sự phối hợp của nghĩa quân Quảng Xương và Hậu Lộc - vượt sông Mã và sông Bút đánh sang, tạo thành ba mũi tiến công. Trận tập kích diễn ra ác liệt với khí thế chiến đấu không khoan nhượng của nghĩa quân, tuy nhiên do kẻ địch có lợi thế về vũ khí hiện đại, sức người khó địch nổi nên sau thời gian giao tranh, nghĩa quân đành phải rút lui.
Cuộc tập kích dù không thành công song khiến thực dân Pháp hoảng sợ. Chúng huy động lực lượng nhằm đàn áp, đè bẹp ý chí chiến đấu của phong trào Cần Vương trên quê hương Hoằng Hóa. Chúng cho người về làng Mỹ Đà lùng bắt cha con cụ Lê Viết Huy. Vì không muốn rơi vào tay giặc, cụ Lê Viết Huy đã tuẫn tiết. Người con trai Lê Viết Trạc tiếp tục con đường mà cha đã lựa chọn.
Sau những thất bại của phong trào đấu tranh đơn lẻ ở các địa phương, cũng trong năm 1886, hội nghị tại đình làng Bồng Trung, xã Biện Thượng (trước đây thuộc xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc), những người đứng đầu phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa nhận thấy cần thiết phải đẩy mạnh để tạo bước ngoặt. Hội nghị quyết định xây dựng căn cứ Ba Đình với mục đích “bảo vệ cửa ngõ, yết hầu của miền Trung và từ đấy có thể dùng làm bàn đạp tấn công thực dân Pháp ở vùng đồng bằng”. Trong xây dựng căn cứ và lực lượng cho căn cứ Ba Đình, Lê Viết Trạc đã khẳng định được ý chí và bản lĩnh của vị tướng trẻ, ông được giao giữ chức Bang tá quân vụ Ba Đình.
Bấy giờ, Mỹ Đà là một làng khá biệt lập nằm giữa cánh đồng rộng lớn, việc ra vào không dễ dàng. Bang tá Lê Viết Trạc đã xây dựng Mỹ Đà thành một vùng hậu cứ, ông chiêu mộ binh sĩ, luyện quân, sắm sửa vũ khí cho căn cứ Ba Đình.
Biết tin Bang tá Trạc về quê chiêu mộ nghĩa quân đánh Pháp, hàng trăm thanh niên trong làng đã tòng quân tham gia luyện tập. Cùng với việc luyện binh, ông vận động người dân và các hào phú trong vùng đóng góp tiền của, lương thực giúp nghĩa quân. Một trong những người tiếp tế lương thực, thực phẩm thường xuyên cho nghĩa quân ở Mỹ Đà là bà cụ Nhu - một hào phú ở làng Quỳ Chử (nay thuộc xã Hoằng Giang). Theo lưu truyền dân gian, bà cụ Nhu đã nhiều lần dẫn đoàn người gánh thóc gạo từ Quỳ Chử sang Mỹ Đà ủng hộ nghĩa quân.
“Lê Viết Trạc đã tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của Nhân dân, nghĩa quân ngày càng phát triển. Nhiều nghĩa quân trong huyện đã được tuyển lựa về đây rèn luyện võ thuật... Nhân dân trong làng đồng tâm nhất trí quyên góp lương thực, thực phẩm, cho mượn nhà cửa để nghĩa quân ăn ở trước khi chuyển đến căn cứ Ba Đình... Cồn Đồng Mả rộng trên 1 mẫu đất Trung bộ có hai cây đa cổ thụ, một giếng nước tự nhiên, có bệ thờ Khổng Tử là bãi tập của nghĩa quân” (sách Danh nhân Thanh Hóa).
Dưới sự lãnh đạo của Bang tá Trạc, Mỹ Đà nhanh chóng trở thành một vùng hậu cứ vững mạnh, cung cấp nhân lực, vật lực thường xuyên cho căn cứ Ba Đình. “Mỗi lần xuất quân đều do Lê Viết Trạc chỉ huy đi qua đò bè ở sông Cung rồi qua Cồn Đình, đi Hậu Lộc sang căn cứ Ba Đình, Nga Sơn” (sách Danh nhân Thanh Hóa).

Hơn 100 năm trôi qua, Bang tá Lê Viết Trạc vẫn là tấm gương sáng về tấm lòng yêu nước để hậu thế noi theo.
Với tinh thần quyết chiến, căn cứ Ba Đình trên quê hương Thanh Hóa trở thành nơi giao chiến ác liệt của quân ta với thực dân Pháp, khiến chúng tổn thất không ít. Kẻ xâm lược hiểu rõ, muốn đàn áp phong trào đấu tranh ở xứ Thanh, không thể không “xóa sổ” Ba Đình. Về sau, do chênh lệch về tương quan lực lượng, vũ khí và âm mưu tàn độc của thực dân Pháp khiến căn cứ Ba Đình từng bước thất thủ, chìm trong biển lửa...
Sau khi đánh phá được căn cứ Ba Đình, thực dân Pháp điên cuồng trả thù, chúng truy lùng những thủ lĩnh của phong trào, trong đó có Lê Viết Trạc. “Người làng chúng tôi vẫn được nghe kể lại, thực dân Pháp về Mỹ Đà 3 lần để lùng bắt cụ Trạc và những người tham gia phong trào. Chúng điên cuồng đốt làng, đốt đình, chùa, khám nhà dân, những người làng từng tham gia phong trào bị chúng giết hại tàn bạo khiến lòng dân oán hận... Trước tình thế nguy cấp, cụ Trạc buộc phải rút lui xuống đất Bằng Trì dưới miền biển. Tuy nhiên, do bị chỉ điểm nên sau đó cụ rơi vào tay giặc Pháp”, ông Lê Viết Phúc, hậu duệ dòng họ Lê Viết ở Mỹ Đà cho biết.
Dù rơi vào tay kẻ địch song Bang tá Trạc vẫn giữ khí tiết của bậc sĩ phu, không chấp nhận quy hàng. Vì vậy, thực dân Pháp đã đóng cũi đưa ông về Tỉnh lỵ Thanh Hóa để hành quyết. Tương truyền, trên đường đi, ngồi trong cũi, Lê Viết Trạc đã tự cắn tay mình lấy máu làm mực, viết bài thơ thất ngôn chữ Hán lên từng then cũi tỏ rõ khí phách. Đến nay bài thơ còn lưu truyền hậu thế, được dịch nghĩa: “Đứng ngắm trời xanh việc dở dang/ Trọng nghĩa cương thường khinh kiếm phủ/ Phách hồn liệt sĩ thọ giang san/ Hưng thời buồn nỗi không còn mặt/ Lúc chết vui sao ánh dạ quang/ Cuộc thế quản chi thành với bại/ Quê hương dẫu chết, xứng y quan”.
Ông Lê Viết Vơn, bí thư chi bộ, trưởng thôn Mỹ Đà, cho biết: “Nhắc đến Bang tá Trạc là nhắc đến bậc sĩ phu với khí phách kiên trung, được người làng Mỹ Đà nhắc nhớ, noi gương. Sau khi mất, ông được người thân, bà con trong xã đưa về an táng ở quê nhà, hương khói phụng thờ. Hằng năm vào ngày lễ hội làng (1/2 âm lịch) tại đền Đồng Cổ, cùng với nghi thức tế lễ thần, người dân lại thắp nén tâm hương tưởng nhớ Bang tá Trạc, suốt hơn trăm năm qua, truyền thống đó vẫn được duy trì”.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Danh nhân Thanh Hóa và một số tài liệu lưu giữ tại dòng họ).