Bài cuối: Khai thác tài nguyên văn hóa bản địa
Trước bộ tiêu chí mới từ Chính phủ, việc giữ và nâng “sao” cho các làng du lịch đòi hỏi tư duy kiến tạo mới, lấy người dân làm trung tâm và dịch vụ làm thước đo.
Nguy cơ “rớt sao”
Không thể phủ nhận OCOP du lịch đã thổi một luồng sinh khí mới vào các vùng nông thôn và miền núi. Nhiều làng văn hóa - du lịch cộng đồng đã vươn lên đạt chuẩn 3 sao, tạo sinh kế bền vững cho hàng ngàn hộ dân. Tuy nhiên, không ít địa phương từng đạt chuẩn hoặc có tiềm năng lớn đang rơi vào vòng xoáy chững lại, thậm chí đối mặt với nguy cơ “rớt sao” sau các kỳ rà soát định kỳ. Ông Ma Văn Thông, Trưởng thôn Động Sơn, xã Yên Sơn chia sẻ: Theo bộ tiêu chí cũ, Làng Văn hóa du lịch Động Sơn từng tiệm cận chuẩn OCOP. Dù vậy, bộ tiêu chí mới lại đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về tổ chức sản xuất và sức mạnh nội tại của cộng đồng.
Soi chiếu vào các yêu cầu mới, đồng bào dân tộc Cao Lan tại đây khó lòng đáp ứng trọn vẹn. Ông Thông dẫn chứng, nếu như giá trị mềm từ truyền thống, phong tục tập quán làng ông không thiếu, thì bài toán xây dựng “câu chuyện sản phẩm” hay tiếp thị thị trường lại là một thử thách lớn. Điều kiện kinh tế và trình độ nhận thức của người dân nông thôn còn hạn chế. Đặc biệt, khả năng tiếp cận thị trường trên nền tảng số sẽ rất khó chạm đến chuẩn OCOP mới nếu thiếu sự trợ lực từ bên ngoài.

Những điệu múa truyền thống của đồng bào Cao Lan, ở Làng Văn hóa du lịch thôn Động Sơn, xã Yên Sơn vẫn được lưu truyền, diễn xướng
Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Làng Văn hóa Sà Phìn, xã Thanh Thủy. Dù đã được chứng nhận 3 sao OCOP, ngôi làng này cũng đang đứng trước nguy cơ rớt hạng do các vấn đề cốt lõi: hạ tầng và môi trường quá tải chưa kịp đáp ứng lượng khách, sự tham gia của người dân dần mang tính thời vụ thiếu chuyên nghiệp, cùng nguồn lực tài chính hạn chế khiến các cơ sở lưu trú và dịch vụ không được duy trì, nâng cấp đúng chuẩn.
Trong Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 và ý kiến từ các chuyên gia du lịch cộng đồng đã chỉ ra điểm nghẽn: Đó là thể chế và chính sách khi các làng văn hóa chịu sự tác động chồng chéo của nhiều quy định đất đai, xây dựng; bài toán hạ tầng và cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế khiến giao thông kết nối kém thuận lợi; sản phẩm du lịch hiện nay phần lớn vẫn còn tương đồng, thiếu sự khác biệt để thu hút phân khúc khách hàng cao cấp. Bên cạnh đó, công tác thương hiệu và xúc tiến quảng bá chưa thực sự bắt nhịp với không gian số, thiếu đi chiến lược dài hạn cũng như hệ thống dữ liệu thị trường; sự phối hợp liên ngành, liên kết vùng còn lỏng lẻo, chưa tạo được chuỗi giá trị khép kín từ nông nghiệp đến dịch vụ.
Cuối cùng, sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, từ hướng dẫn viên, điều hành tour cho đến năng lực ngoại ngữ, đang tiếp tục là rào cản lớn kìm hãm sự bứt phá của du lịch cộng đồng địa phương.
Kiến tạo hệ sinh thái đồng bộ
Tuyên Quang sở hữu tiềm năng du lịch đặc sắc mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, đặc biệt là du lịch sinh thái và cộng đồng. Sự định hình chiến lược đó được thể hiện rõ qua hệ thống văn bản chỉ đạo đồng bộ của tỉnh, nổi bật là Nghị quyết số 92-NQ/TU ngày 13-5-2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến 2050, tiếp đến là Đề án phát triển du lịch cùng các nghị quyết quy định cụ thể chính sách hỗ trợ trên địa bàn.
Theo đó, tỉnh tập trung quy hoạch vùng và liên kết chuỗi giá trị không gian du lịch nông thôn gắn với hệ sinh thái vùng để tránh tình trạng phát triển tự phát, manh mún; ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng thiết yếu như giao thông, viễn thông, xử lý rác thải thân thiện với môi trường; đồng thời bố trí các gói tín dụng ưu đãi để nâng cấp cơ sở lưu trú đạt chuẩn xanh và đẩy mạnh số hóa, đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử lớn.
Đồng chí Nguyễn Thị Hoài, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho biết mục tiêu đến năm 2030 tỉnh sẽ củng cố, giữ vững sao và phấn đấu nâng hạng cho 9 làng du lịch đã đạt chuẩn gồm: thôn Nậm Hồng (xã Thông Nguyên), thôn Nặm Đăm (xã Quản Bạ), thôn Nà Ràng (xã Khuôn Lùng), thôn Quảng Hạ (xã Quảng Nguyên), thôn Lô Lô Chải và thôn Ma Lé (xã Lũng Cú), thôn Bản Lạn (xã Bắc Mê), thôn Tha (phường Hà Giang 1), thôn Sà Phìn (xã Thanh Thủy), cùng Tổ hợp tác Homestay 99 Ngọn Núi (xã Thượng Lâm). Đồng thời, tỉnh cũng định hướng phát triển các làng có tiềm năng như Tân Lập, Hồng Thái, Bản Bung và đặc biệt là mô hình Làng số Lâm Bình - một mô hình mới của tỉnh và cả nước.
Đồng chí Ngô Văn Thương, Phó Văn phòng Ban điều phối Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh cho biết: Đơn vị sẽ chủ động tham mưu phân bổ nguồn vốn hiệu quả, sát sao hỗ trợ các địa phương hiện thực hóa mục tiêu này, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản phẩm nông sản đặc trưng với du lịch cộng đồng.
Để giải quyết triệt để các điểm nghẽn và giúp OCOP du lịch không chỉ “giữ sao” mà còn “nâng hạng”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng: Cơ chế và chính sách là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Các địa phương cần chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “khai thác tài nguyên” sang “kiến tạo sản phẩm trải nghiệm”; khai thác triệt để “văn hóa bản địa sống” để biến mỗi người dân thành một “đại sứ văn hóa”; chuẩn hóa các dịch vụ du lịch…
Theo PGS.TS Dương Văn Sáu, sự chuyển dịch phải đi từ gốc rễ khi người nông dân thực sự xem du lịch là một nghề lao động đòi hỏi tri thức và sự tận tâm; khi bản sắc văn hóa được bảo tồn bằng lòng tự hào và sự tôn trọng sâu sắc đối với tiền nhân. Từ quá trình đó, những ngôi làng OCOP du lịch của Tuyên Quang sẽ không chỉ đơn thuần giữ vững tấm biển danh hiệu trong nước, mà còn tích lũy đủ nội lực để tự tin bước ra biển lớn, tỏa sáng trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới. Đó mới chính là đích đến cuối cùng và sức sống trường tồn của hành trình phát triển OCOP du lịch bền vững.
Bài, ảnh: Trần Liên, Đoàn Thư, Hạ Hòa
► Bài 1: Văn hóa bản địa thành lợi thế hút khách
►Bài 2: Tiềm năng lớn nhưng vẫn ít “sao”
Bài viết phân tích nguy cơ 'rớt sao' của làng du lịch OCOP trước tiêu chí mới. Khám phá giải pháp từ Tuyên Quang và chuyên gia để phát triển bền vững, khai thác hiệu quả văn hóa bản địa.






























