Bài 4: Khát vọng 'trái ngọt' vươn xa

Bài 3: Ý Đảng hòa cùng khát vọng Nhân dân

Cùng với mở rộng vùng nguyên liệu 40.000ha mắc ca và trên 20.000ha cà phê, Điện Biên từng bước hoàn thiện những mắt xích để nông sản không chỉ được mùa trên nương mà còn tạo ra giá trị lớn hơn trên thị trường. Khi người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp được kết nối bằng chính sách, công nghệ, chế biến và thị trường, những cây trồng kỳ vọng giúp người dân thoát nghèo đang đứng trước cơ hội trở thành động lực tạo giá trị, nâng thu nhập và hiện thực hóa khát vọng phát triển của tỉnh.

Từ liên kết đến chuỗi giá trị

Diện tích cà phê, mắc ca mở rộng sẽ kéo theo sản lượng nguyên liệu tăng nhanh. Vì vậy, bài toán không còn là trồng được bao nhiêu héc-ta, mà phải tổ chức thu mua, sơ chế và tiêu thụ thế nào để nâng giá trị sản phẩm, hạn chế phụ thuộc vào thương lái.

Nhận thấy đòi hỏi từ thực tiễn là cần thiết nâng cao giá trị nông sản, HTX Cà phê Pha Đin (tại xã Quài Tở) đã đầu tư xưởng sơ chế, từng bước hoàn thiện chuỗi từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm. Thay vì bán toàn bộ quả tươi, Hợp tác xã kiểm soát nguyên liệu đầu vào, tổ chức sơ chế và phát triển sản phẩm cà phê Quài Tở.

Anh Sùng A Dia, Giám đốc HTX Cà phê Pha Đin cho biết: Đơn vị mở rộng liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã để tổ chức sản xuất theo chuỗi và hoàn thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn OCOP. Hiện tại HTX phát triển 11ha vườn cây đầu dòng để chủ động nguồn giống phục vụ trồng mới, tái canh; đồng thời thuê thiết bị bay không người lái phun phân bón, giảm nhân công và rút ngắn thời gian chăm sóc trên địa hình đồi dốc.

Tại xã Tuần Giáo đã xây dựng được 17 sản phẩm OCOP. Trong đó 15 sản phẩm đạt 3 sao, 2 sản phẩm đạt 4 sao. Phần lớn sản phẩm mang thương hiệu OCOP Tuần Giáo được chế biến từ cà phê, mắc ca; tiêu biểu như các sản phẩm: Hồng Kỳ International Coffee HK13, Arabica Espresso HK10, mắc ca Việt Hà, hạt mắc ca sấy tách khe Thoa Quang, nhân mắc ca sấy giòn Thoa Doãn… Các sản phẩm bước đầu được tiêu thụ thông qua kênh của hợp tác xã, góp phần đưa cà phê, mắc ca địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy mô sản xuất còn nhỏ, sản lượng chưa lớn, thị trường chủ yếu trong tỉnh và một số kênh bán hàng hạn chế. Điều này cho thấy OCOP mới là bước khởi đầu; để sản phẩm đi xa, các chủ thể cần tiếp tục chuẩn hóa chất lượng, cải tiến bao bì, nâng năng lực chế biến và mở rộng hệ thống phân phối.

Nhìn thấy rào cản đối với nông nghiệp địa phương, xã Chiềng Sinh đã chủ động chuẩn bị vùng nguyên liệu và các điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến nông sản. Theo định hướng đến năm 2030, xã Chiềng Sinh phát triển khoảng 1.200ha cà phê và 3.600ha mắc ca, trở thành một trong những địa bàn trọng điểm gắn vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến mắc ca.

Ông Hà Cầm Hồng, Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Sinh cho biết: Địa phương rà soát quỹ đất, xác định khu vực phù hợp, hỗ trợ người dân tiếp cận giống, kỹ thuật và tham gia các nhóm liên kết. Xã cũng chú trọng chuẩn bị hạ tầng, mặt bằng và tạo điều kiện để Tập đoàn TH đầu tư vùng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến.

Thạc sĩ Đinh Thị Tiếu Oanh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (bên phải) trao đổi với phóng viên về công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch nhằm gia tăng giá trị và phát triển bền vững một số nông sản chủ lực tỉnh Điện Biên.

Ông Đỗ Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Chiềng Sinh cho rằng: Sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu giúp người dân sản xuất theo tiêu chuẩn, đồng thời bảo đảm nguồn đầu vào cho chế biến. Tuy nhiên, mối liên kết cần được xác lập bằng cam kết rõ ràng về diện tích, chất lượng, phương thức thu mua, giá cả và trách nhiệm của mỗi bên.

Chính sách tạo lực chế biến

Để cụ thể hóa Nghị quyết 11 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 16/7/2026 về chính sách hỗ trợ thực hiện cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, xanh, thông minh, bền vững. Ông Lê Thành Đô, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cho biết: Chính sách hỗ trợ có hiệu lực từ ngày 26/7/2026, áp dụng đối với doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác và hộ gia đình tham gia sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Trong đó, chính sách dành mức hỗ trợ đáng kể cho các dự án chế biến, bảo quản nông sản. Doanh nghiệp có dự án đầu tư từ 60 tỷ đồng trở lên được chấp thuận chủ trương đầu tư và liên kết tối thiểu 2.000ha cà phê, mắc ca hoặc cây ăn quả trong thời gian ít nhất 50 năm có thể được hỗ trợ tối đa 30% chi phí xây dựng, mua sắm thiết bị và dây chuyền sản xuất, nhưng không quá 15 tỷ đồng/dự án.

Trường hợp dự án ứng dụng công nghệ tuần hoàn, sinh học, năng lượng tái tạo hoặc xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành sản phẩm có giá trị gia tăng, mức hỗ trợ tối đa có thể lên tới 20 tỷ đồng. "Lần đầu tiên có cơ chế hỗ trợ lớn cho nông nghiệp và cơ chế này được kỳ vọng tạo thêm sức hút đối với các doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến sâu, đồng thời khuyến khích sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường", Chủ tịch HĐND tỉnh Lê Thành Đô nhấn mạnh.

Nghị quyết 23 cũng hỗ trợ phát triển nông nghiệp thông minh với mức tối đa 50% kinh phí đầu tư hệ thống nhà màng, nhà lưới, tưới tiết kiệm và tưới thông minh. Mức hỗ trợ không quá 1 tỷ đồng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã; 700 triệu đồng đối với tổ hợp tác, nhóm hộ và 300 triệu đồng đối với hộ gia đình.

Đối với xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, chính sách hỗ trợ một lần tối đa 100% chi phí nhưng không quá 50 triệu đồng/mã số. Cơ sở sơ chế, chế biến xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm theo HACCP, ISO hoặc tương đương được hỗ trợ tối đa 80 triệu đồng/hệ thống.

Bên cạnh đó, sản phẩm được công nhận Thương hiệu quốc gia Việt Nam có thể được hỗ trợ tối đa 70% chi phí xây dựng, hoàn thiện bộ nhận diện, bảo hộ sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc và chiến lược phát triển thương hiệu, nhưng không quá 500 triệu đồng/sản phẩm. Sản phẩm mới tham gia Chương trình OCOP được hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng; điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP được hỗ trợ tối đa 50% kinh phí đầu tư, không quá 150 triệu đồng/điểm.

Kiến tạo nền nông nghiệp giá trị cao

Từ yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, xanh, thông minh và bền vững, Điện Biên từng bước chuyển trọng tâm từ mở rộng diện tích sang nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản. Trong đó, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, ứng dụng khoa học - công nghệ, đẩy mạnh chế biến, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và tổ chức liên kết chặt chẽ giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp được xác định là những khâu then chốt.

Cây cà phê được trồng xen cây mắc ca tại xã Chiềng Sinh.

Cây cà phê được trồng xen cây mắc ca tại xã Chiềng Sinh.

Tại diễn đàn “Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực tại Điện Biên”,  ông Lò Văn Cương, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh khẳng định: Với diện tích tự nhiên trên 954.000ha, trong đó khoảng 93% là đất nông nghiệp và lâm nghiệp, tỉnh có nhiều điều kiện để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trên nền tảng đó, Điện Biên cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, xanh, thông minh và bền vững; phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, lấy phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi giá trị làm trọng tâm. Mục tiêu không chỉ tạo ra sản phẩm mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và thu nhập cho người sản xuất.

Đáng chú ý, định hướng từ diễn đàn đã nhanh chóng được cụ thể hóa. Ngày 29/7, UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ sau diễn đàn; đánh giá những khuyến nghị về phát triển nông nghiệp xanh, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, ứng dụng khoa học - công nghệ, chế biến sau thu hoạch, phát triển chuỗi giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ là cơ sở quan trọng để các sở, ngành, địa phương nghiên cứu, vận dụng phù hợp. Đồng thời, yêu cầu các sở, ngành và UBND xã, phường chủ động rà soát, lựa chọn nội dung phù hợp để lồng ghép vào cơ chế, chính sách, chương trình, đề án và kế hoạch phát triển. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì nghiên cứu, tiếp thu các giải pháp về khảo nghiệm giống, hoàn thiện quy trình canh tác, quản lý dịch hại, bảo quản, chế biến sau thu hoạch, chuyển đổi số và xây dựng mô hình sản xuất đối với sản phẩm chủ lực; đồng thời tham mưu xây dựng chương trình hợp tác khoa học và công nghệ giữa UBND tỉnh Điện Biên với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Sau chế biến, sản phẩm mắc ca được thị trường trong và ngoài tỉnh ưa chuộng.

Sau chế biến, sản phẩm mắc ca được thị trường trong và ngoài tỉnh ưa chuộng.

Việc ban hành văn bản chỉ hơn 10 ngày sau diễn đàn cho thấy những khuyến nghị của chuyên gia đã nhanh chóng được tiếp thu, chuyển thành nhiệm vụ cụ thể. Từ vùng nguyên liệu, khoa học - công nghệ đến chế biến, chuyển đổi số và thị trường, từng mắt xích đang được đặt trong chuỗi liên kết thống nhất, thay vì phát triển riêng lẻ. Và đó là điều rất quan trọng, cần thiết để nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp "đơm hoa, kết trái"…

Những cây trồng từng mang theo kỳ vọng thoát nghèo, cà phê và mắc ca nay được đặt trong một chiến lược phát triển mới. Có vùng nguyên liệu, nhà máy, tiêu chuẩn, thương hiệu và thị trường. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, hợp tác xã phát huy vai trò, doanh nghiệp đầu tư chế biến và sản phẩm được gắn với thương hiệu, khoa học - công nghệ và thị trường, nông nghiệp sẽ tạo ra giá trị lớn hơn, trở thành động lực quan trọng hiện thực hóa khát vọng phát triển của Điện Biên.

Song Phương

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/chinh-tri/bai-4-khat-vong-trai-ngot-vuon-xa