Bài 2: Thực thi chia sẻ công bằng
Sáng tạo từ tài nguyên di sản tạo cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa thế mạnh riêng, góp phần khẳng định bản sắc Việt. Song, nếu chỉ chú trọng khai thác mà không quan tâm đến quyền lợi của chủ thể di sản sẽ tạo ra bất công trong phân chia lợi ích.

Vở diễn Tứ Phủ tái hiện nghi thức Lên Đồng một cách chân thực, đẹp đẽ, trong sáng trong nghệ thuật tâm linh của người Việt. (Ảnh: Viettheatre)
Sử dụng chất liệu di sản văn hóa, hay một số chuyên gia gọi là sử dụng tri thức truyền thống trong sáng tạo là một trào lưu mạnh mẽ, góp phần tạo nên thế mạnh của công nghiệp văn hóa, sáng tạo Việt Nam. Không ít sản phẩm, tác phẩm đã tạo sức hút mạnh mẽ như những “show” về tín ngưỡng thờ Mẫu được giới thiệu, quảng bá ở nước ngoài; hay mới đây nghệ sĩ Soobin Hoàng Sơn gây “bão” với MV “Mục hạ vô nhân” khai thác chất liệu hát xẩm. Các dòng tranh Hàng Trống, Đông Hồ, Kim Hoàng… được các nhà sáng tạo, các doanh nghiệp khai thác để tạo ra tác phẩm nghệ thuật, hay sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Nhiều nghệ sĩ chuyển thể tranh dân gian sang các chất liệu mới như lụa, sơn mài,… với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nổi tiếng nhất là các đèn, sổ, lịch, quạt… Không chỉ dừng ở đó, một số doanh nghiệp, nhà sáng tạo sau khi khai thác “vốn” tri thức truyền thống đã đăng ký bản quyền cho sản phẩm của mình.
Theo Luật Di sản văn hóa sửa đổi 2024, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể là cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân sáng tạo, kế thừa, sở hữu, nắm giữ, thực hành, trao truyền và tái tạo di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp, nhà sáng tạo vốn không phải chủ thể, không liên quan đến di sản văn hóa này nhưng đang thu lợi nhuận từ sáng tạo di sản, trong khi quyền lợi của chủ thể đích thực của di sản lại chưa được đề cập hoặc bị bỏ qua.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) năm 2022, các chủ thể có hai quyền cơ bản: Quyền nhân thân và quyền tài sản. Luật hiện nay mới chỉ quy định về quyền nhân thân với chủ thể di sản ở Điều 23. Khái niệm di sản không được đề cập trực tiếp mà thay vào đó là thuật ngữ “tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian”, cụ thể: Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Còn quyền tài sản đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì Luật chưa đề cập đến.
Như vậy, theo Luật, những nhà sản xuất, nhà sáng tạo tạo ra tác phẩm phái sinh từ “vốn” di sản là tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đang được pháp luật bảo hộ cả về quyền nhân thân lẫn quyền tài sản nếu họ đăng ký bản quyền sản phẩm hay tác phẩm. Thực tế này cho thấy lỗ hổng lớn trong bảo vệ quyền lợi của chủ thể di sản. Bởi chủ thể “gốc” không được bảo vệ, còn chủ thể “thứ cấp” lại được bảo vệ cả quyền nhân thân lẫn quyền tài sản. Thậm chí, khi đã đăng ký mẫu mã sản phẩm, các doanh nghiệp, nhà sáng tạo có thể kiện lại cộng đồng vốn là chủ thể đích thực của di sản nếu xảy ra tranh chấp.
Từ những năm 1980, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã khuyến nghị các quốc gia xây dựng khung pháp lý cho tri thức truyền thống. Đến năm 2006, IGC đưa ra khuyến nghị: “Các chủ thể nắm giữ tri thức truyền thống phải được hưởng sự chia sẻ lợi ích một cách công bằng và hợp lý từ mọi hoạt động sử dụng tri thức đó cho mục đích thương mại hoặc công nghiệp”; và “Việc sử dụng tri thức truyền thống phải dựa trên nguyên tắc có sự đồng ý trước dựa trên thông tin đầy đủ và các thỏa thuận dựa trên thương lượng bình đẳng, trong đó bao gồm các điều khoản rõ ràng về cơ chế chia sẻ lợi ích”. Thực hiện khuyến nghị này, nhiều quốc gia đã xây dựng khung pháp lý bảo hộ cả quyền nhân thân lẫn quyền tài sản cho chủ thể tri thức truyền thống.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Văn Phúc (Trường đại học Luật, Đại học Huế), Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm bảo hộ tri thức truyền thống của Ấn Độ, Trung Quốc, Peru. Trong đó có hai cơ chế, cơ chế thứ nhất là “bảo hộ phòng thủ”. Cơ chế này xây dựng cơ sở dữ liệu về tri thức truyền thống để lưu trữ và làm chứng cứ phản đối các sáng chế, nhãn hiệu xác lập bất hợp pháp tại các quốc gia trên thế giới có nguồn gốc từ tri thức truyền thống của Việt Nam. Tiếp theo là bảo hộ tích cực bằng cách hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ như bổ sung định nghĩa “tri thức truyền thống” và “cộng đồng bản địa”, xác định rõ chủ thể được bảo hộ và tổ chức đại diện tập thể đối với tri thức truyền thống; bổ sung đối tượng được hưởng thù lao là cộng đồng nắm giữ, quản lý tri thức truyền thống... và tham khảo một số giải pháp khác.
Thực tế cũng cho thấy, cùng một đối tượng nhưng cách đề cập từ các góc độ khác nhau đang tạo ra những độ vênh nhất định. Một số nhà nghiên cứu thường dùng thuật ngữ “di sản văn hóa”, Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng khái niệm “tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian”. Trong khi đó, WIPO lại sử dụng thuật ngữ “tri thức truyền thống”. Do đó, việc thống nhất khái niệm là cần thiết. Tiếp đó, cần bổ sung quy định về quyền tài sản với chủ thể tri thức truyền thống trong Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định liên quan.
Vấn đề quan trọng khác là thực thi việc chia sẻ công bằng, hay dưới góc độ pháp lý là quyền tài sản. Hiện nay, các chuyên gia, nhà nghiên cứu đang đề xuất ba xu hướng chính: Nhà nước đứng ra thu tiền bản quyền, sau đó chi trả lại cho chủ thể; chủ thể di sản bầu ra các hiệp hội, hay hội nghề nghiệp và các đơn vị này có trách nhiệm đòi quyền lợi; việc đòi quyền lợi được thực hiện thông qua bên thứ ba - một tổ chức đại diện cho quyền tác giả tập thể.
Về vấn đề này, Tiến sĩ Lê Tùng Sơn (Giảng viên Khoa Khoa học quản lý, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: “Chúng ta thiếu cơ chế bảo vệ quyền lợi cho chủ thể di sản văn hóa phi vật thể, cụ thể như vấn đề chia sẻ lợi ích từ việc sáng tạo di sản. Trong các xu hướng giải quyết vấn đề quyền lợi cho chủ thể, việc có một tổ chức đại diện cho tập thể quyền tác giả là điều nhiều nước trên thế giới đã có từ lâu. Đây là bên thứ ba, có trách nhiệm thu phí bản quyền cho tập thể chủ thể di sản. Chủ thể ủy thác cho bên thứ ba này. Họ chính là cầu nối giữa những người sáng tạo và cộng đồng sở hữu di sản”.
Việc bảo vệ quyền tài sản đối với chủ thể tri thức truyền thống có vai trò quan trọng trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Nguồn tài chính thu được từ sáng tạo của các nhà sáng tạo, doanh nghiệp, nghệ sĩ… quay trở lại phục vụ cho bảo tồn, phát huy giá trị di sản sẽ góp phần giảm gánh nặng ngân sách nhà nước. Cùng với đó, chủ thể của di sản/tri thức truyền thống khi nhận được nguồn tài chính từ di sản mình nắm giữ sẽ nâng cao ý thức gìn giữ, bảo vệ. Do đó, việc bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản của chủ thể di sản cũng chính là giải pháp để bảo tồn, phát huy giá trị di sản bền vững.
-------------------------------------------
() Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 29/11/2025.
































