Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc gắn với đổi mới sản phẩm

Là vùng đất “trăm nghề” gắn liền với những thương hiệu nổi tiếng như tranh Đông Hồ, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, tre trúc Xuân Lai, mỳ Thủ Dương, rượu làng Vân, bún bánh Đa Mai..., các làng nghề Bắc Ninh không chỉ tạo động lực phát triển kinh tế mà còn là nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa Kinh Bắc. Khắc phục những điểm nghẽn về hạ tầng, môi trường và thị trường để giữ nghề truyền thống đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Vùng đất trăm nghề

Tỉnh Bắc Ninh hiện có 87 làng nghề, làng nghề truyền thống và 7 nghề truyền thống. Trong đó, 27/87 làng nghề, làng nghề truyền thống và 7 nghề truyền thống đã được UBND tỉnh công nhận danh hiệu; còn 60 làng nghề chưa được công nhận danh hiệu. Hoạt động sản xuất của các làng nghề tập trung vào ba nhóm chính gồm: Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ; sản xuất, kinh doanh sinh vật cảnh.

 Lãnh đạo Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thăm mô hình sản xuất tại Hợp tác xã Mây tre đan Ngọc Quyết, xã Tân Chi.

Lãnh đạo Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thăm mô hình sản xuất tại Hợp tác xã Mây tre đan Ngọc Quyết, xã Tân Chi.

Thôn Xuân Hội (xã Tân Chi) có 745 hộ dân, trong đó có 84% số hộ làm nghề mây, tre đan, thu hút hơn 900 lao động, chủ yếu là người cao tuổi. Nhiều sản phẩm đạt chứng nhận OCOP, được doanh nghiệp thu mua để xuất khẩu. Bà Nguyễn Thị Thúy, 62 tuổi, ở thôn Xuân Hội chia sẻ: "Từ nhỏ tôi được mẹ dạy đan rổ, rá, giần, sàng, rọ tôm. Đến nay, gia đình vẫn luôn gìn giữ nghề của ông cha để lại và truyền cho con cháu. Công việc này có thể tranh thủ lúc nông nhàn và có thêm thu nhập".

Ở làng nghề mỳ Chũ Thủ Dương, xã Nam Dương, hoạt động sản xuất diễn ra quanh năm. Từ sáng sớm đến đêm khuya, các gia đình tất bật ngâm gạo, tráng bánh, phơi, sấy, đóng gói sản phẩm để kịp giao hàng cho khách. Bên cạnh sản phẩm mỳ truyền thống, các hộ sản xuất, hợp tác xã còn tích cực đổi mới bao bì, cho ra thị trường sản phẩm mới với chất lượng cao cấp như: Mỳ sợi to (phở), mỳ gạo lứt, mỳ rau củ quả… Nhiều sản phẩm đã khẳng định chỗ đứng trên thị trường trong nước và xuất khẩu.

Ông Lưu Văn Khải, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, các làng nghề truyền thống không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của từng vùng quê mà còn trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn. Riêng nhóm làng nghề chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản tạo việc làm cho khoảng 2.800 lao động, thu nhập bình quân từ 7,5-8,8 triệu đồng/người/tháng. Năm 2025, doanh thu của nhóm này đạt khoảng 536 tỷ đồng, tăng hơn 31% so với năm 2020. Nhiều sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đạt chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên, góp phần nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương.

Bên cạnh đó, danh tiếng các sản phẩm làng nghề như tranh dân gian Đông Hồ, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng… đã vượt ra khỏi phạm vi địa phương, trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc của vùng đất Kinh Bắc, khẳng định tài hoa, sức sáng tạo của các thế hệ nghệ nhân.

Bắc Ninh hiện có 87 làng nghề, làng nghề truyền thống và 7 nghề truyền thống. Trong đó, 14 làng nghề, 13 làng nghề truyền thống và 7 nghề truyền thống đã được UBND tỉnh

Mặc dù thời gian qua, Bắc Ninh có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát triển làng nghề song áp lực từ các sản phẩm công nghiệp và nhu cầu tiêu dùng thay đổi khiến nhiều nghề truyền thống dần mất chỗ đứng. Những nghề như làm cày bừa hay nón lá gần như không còn đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Nhiều làng nghề làm giấy dó, mây tre đan, chẻ tăm lụa, làm nón lá... chỉ còn vài chục, thậm chí vài hộ duy trì sản xuất.

Một thách thức khác là thiếu lực lượng lao động kế cận. Trong bối cảnh chuyển đổi số và thị trường lao động ngày càng sôi động, phần lớn lao động trẻ lựa chọn làm việc tại khu công nghiệp, thu nhập ổn định hơn. Những người còn gắn bó với nghề chủ yếu là lao động lớn tuổi, làm thời vụ nên rất khó để làm ra sản phẩm có tính kỹ thuật cao.

Tại Hợp tác xã Mây tre đan Ngọc Quyết, xã Tân Chi, mỗi tháng trung bình cung ứng ra thị trường 7.000 sản phẩm các loại; thị trường tiêu thụ chủ yếu là xuất khẩu. Theo ông Đặng Ngọc Quyết, Giám đốc Hợp tác xã, số lượng đơn đặt hàng lớn nhưng sự phát triển công nghiệp hóa đã thu hút lao động trẻ chuyển hướng sang làm công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp. Thêm nữa, thu nhập có sự chênh lệch quá lớn khiến làng nghề khó thu hút nhân lực trẻ. Đa số lao động gắn bó với nghề đều trung tuổi. Để bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, ông Quyết mong muốn Nhà nước có chính sách hỗ trợ đặc thù cho nhân lực làm nghề truyền thống.

Cùng với đó, ô nhiễm môi trường vẫn là "điểm nghẽn" của nhiều làng nghề khi hoạt động sản xuất diễn ra tại khu dân cư. Nước thải, khí thải và chất thải rắn ở một số nơi chưa được xử lý triệt để. Hiện toàn tỉnh còn khoảng 60 làng có nghề đặc trưng nhưng chưa đủ điều kiện được công nhận làng nghề do chưa đáp ứng tiêu chí về bảo vệ môi trường.

Chuyển đổi để thích ứng

Để phát triển trong môi trường hội nhập, nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã và cơ sở làng nghề đã chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất, đầu tư công nghệ, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ, từng bước thích ứng với xu thế phát triển mới.

 Sản xuất bún tại Hợp tác xã Sản xuất bún bánh Thắng Thủy, phường Đa Mai.

Sản xuất bún tại Hợp tác xã Sản xuất bún bánh Thắng Thủy, phường Đa Mai.

Tiêu biểu là Hợp tác xã Sản xuất bún bánh Đa Mai (phường Đa Mai) đã đầu tư hệ thống bể biogas 60 m³, bể lọc ba ngăn 120 m³ để xử lý nước thải, đưa dây chuyền sản xuất tự động vào vận hành với công suất khoảng 4 tấn bún thành phẩm mỗi ngày. Nhiều doanh nghiệp tại các làng nghề gỗ mỹ nghệ chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm nội thất chung cư, thay đổi cách tiếp cận khách hàng và tiêu thụ thông qua sàn thương mại điện tử; chuyển đổi từ sản xuất những sản phẩm truyền thống là bàn, ghế, tủ, sập, kệ… sang dòng sản phẩm tâm linh, trang trí để xuất khẩu.

Nỗ lực của từng hộ sản xuất hay hợp tác xã là chưa đủ mà các cấp chính quyền cần có các cơ chế, chính sách mang tính chiến lược. Theo đồng chí Bùi Quang Phát, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2026-2030, tỉnh ưu tiên đầu tư hoàn thiện hạ tầng và cải thiện môi trường làng nghề; xây dựng các khu trưng bày, giới thiệu sản phẩm; phát triển điểm du lịch làng nghề gắn với trải nghiệm văn hóa; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Tỉnh tiếp tục công nhận danh hiệu đối với các làng nghề đủ điều kiện, quan tâm khôi phục những nghề truyền thống có nguy cơ mai một. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển sản phẩm OCOP và thương mại điện tử; công nhận danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi truyền cảm hứng và kỹ năng cho các thế hệ kế cận. Triển khai các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề cho lao động trẻ; khuyến khích các hộ sản xuất, nghệ nhân sáng tạo sản phẩm trên nền tảng giá trị truyền thống.

Làng nghề truyền thống là kết tinh của lịch sử, văn hóa và tinh hoa lao động qua nhiều thế hệ. Giữ gìn và phát triển làng nghề không chỉ là gìn giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ mà còn tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập cho người dân và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Khi truyền thống kết hợp hài hòa với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tư duy thị trường, các làng nghề Bắc Ninh sẽ có thêm động lực để vươn xa.

Bài, ảnh: Thái Uyên - Mai Toan

Ông Nguyễn Thế Thi, Phó Giám đốc Sở Công Thương: Hỗ trợ xây dựng thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại

Sở Công Thương sẽ tiếp tục tham mưu UBND tỉnh triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề theo hướng bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Hỗ trợ các cơ sở sản xuất tham gia hội chợ, triển lãm, kết nối cung - cầu; đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối hiện đại, sàn thương mại điện tử và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị và quảng bá sản phẩm làng nghề Bắc Ninh.

Bên cạnh đó, Sở ưu tiên hỗ trợ các cơ sở thiết kế bao bì, xây dựng bộ nhận diện thương hiệu, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc và nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn phù hợp. Mục tiêu là tạo ra những sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa mang đậm bản sắc và câu chuyện văn hóa của từng làng nghề. Đồng thời tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình khuyến công, hỗ trợ đổi mới công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, thương mại điện tử và đào tạo kỹ năng kinh doanh, marketing số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các cơ sở sản xuất.

Xác định phát triển làng nghề không chỉ là gìn giữ di sản mà còn là động lực phát triển kinh tế nông thôn, Sở Công Thương tiếp tục đồng hành với các địa phương, nghệ nhân, hợp tác xã và doanh nghiệp, góp phần đưa sản phẩm làng nghề Bắc Ninh khẳng định thương hiệu, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.

Ông Nguyễn Đình Thinh, Giám đốc Hợp tác xã Mộc Bãi Ổi, phường Bắc Giang: Mong có mặt bằng sản xuất tập trung

Làng nghề mộc dân dụng Bãi Ổi đã tạo việc làm, thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương, góp phần gìn giữ nghề truyền thống. Tuy nhiên, nhiều năm qua, điều khiến các hộ sản xuất và hợp tác xã trăn trở nhất là thiếu quỹ đất để mở rộng sản xuất. Hầu hết các xưởng mộc hoạt động xen kẽ trong khu dân cư, gây tiếng ồn, bụi, phương tiện vận chuyển ra vào thường xuyên, ảnh hưởng đến môi trường và đời sống của người dân.

Nhu cầu mở rộng quy mô, đầu tư máy móc hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm là rất lớn nhưng nếu không có mặt bằng phù hợp thì các cơ sở khó có điều kiện phát triển. Vì vậy, chúng tôi mong tỉnh quan tâm quy hoạch quỹ đất, bố trí khu sản xuất tập trung với giá ưu đãi để các hộ làm nghề có điều kiện di dời, đầu tư sản xuất bài bản, đáp ứng yêu cầu về môi trường và an toàn lao động. Đây cũng là mong muốn chung của nhiều làng nghề trên địa bàn Bắc Ninh.

Khi có mặt bằng ổn định, các cơ sở sẽ mạnh dạn đầu tư công nghệ, mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, giảm thiểu ô nhiễm trong khu dân cư. Chúng tôi tin rằng, nếu được tạo điều kiện về đất đai và hạ tầng sản xuất, các làng nghề sẽ phát huy tốt hơn giá trị truyền thống, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế địa phương.

Nghệ nhân Nhân dân (khảm trai) Nguyễn Đình Vinh, thôn Hoài Trung, xã Liên Bão: Để nghề truyền thống không bị mai một

Làng nghề, nghề truyền thống tồn tại được qua hàng thế kỷ đến ngày nay là do cha ông ta trân trọng, gìn giữ. Tuy nhiên, để lưu giữ, phát huy giá trị nghề truyền thống trong giai đoạn hiện nay cũng không đơn giản, bởi lớp trẻ hiện đều chọn việc làm tại các khu công nghiệp hay công sở với việc làm và thu nhập ổn định.

Nghề khảm trai nói riêng và nghề truyền thống nói chung như nghề mộc, đan lát, đúc đồng… đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, học nghề lâu, dễ khiến người trẻ nản lòng. Mong ước của tôi là không để nghề truyền thống mai một. Muốn có được điều này, rất mong các bạn trẻ học nghề và theo nghề, bởi giữ làng nghề là giữ hồn quê hương. Đồng thời đề nghị tỉnh hỗ trợ kinh phí để các nghệ nhân làng nghề có thêm động lực truyền nghề và lớp trẻ có thêm cơ hội phát huy giá trị làng nghề, nghề truyền thống.

Đại La (thực hiện)

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/bac-ninh-giu-gin-ban-sac-gan-voi-doi-moi-san-pham-postid451753.bbg