Bắc Ninh: Giữ chuẩn để đáp ứng chuỗi giá trị toàn cầu
Ngày áp Tết, bên trong các khu công nghiệp: Yên Phong, Quế Võ, Thuận Thành, Vân Trung, Đình Trám... hoạt động sản xuất vẫn hối hả từng giờ. Đèn xưởng sáng trắng, xe nâng ra vào liên hồi. Doanh nghiệp Bắc Ninh bước vào năm mới trong trạng thái sản xuất đều đặn, bền bỉ, theo đúng tiến độ và cam kết giao hàng.
“Đại bàng” kéo chuỗi vendor Việt
Câu chuyện chuỗi liên kết hiệu quả ở Bắc Ninh bắt đầu từ các “đại bàng” FDI như Samsung, Foxconn, Goertek, Canon…, nhưng sức bền của chuỗi lại nằm ở lớp nhà cung ứng bám sát dây chuyền. Ở đây, điều đáng nói không chỉ là những con số lớn, mà là cách giá trị gia tăng được giữ lại tại địa phương thông qua hệ thống vendor (nhà cung cấp), bằng một chuỗi cung ứng từ khuôn mẫu, vật tư, bao bì, logistics đến kiểm định.

Dây chuyền sản xuất sản phẩm tham gia chuỗi cung ứng với các doanh nghiệp FDI của Công ty cổ phần Công nghệ thế hệ mới HANEL PT (Khu công nghiệp Tiên Sơn).
Trong chuỗi giá trị toàn cầu, Samsung Bắc Ninh là một điểm nhấn. Sau 17 năm kể từ dự án điện thoại đầu tiên tại Khu công nghiệp Yên Phong với vốn đăng ký ban đầu 670 triệu USD, đến nay tổng vốn đầu tư vào Bắc Ninh của doanh nghiệp đã vượt 11 tỷ USD. Năm 2025, doanh thu xuất khẩu của các nhà máy Samsung tại Bắc Ninh vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất, bên cạnh các vendor nước ngoài, Samsung mở rộng hợp tác với doanh nghiệp nội địa, triển khai các chương trình nâng năng lực sản xuất, kiểm soát chất lượng và đào tạo chuyên gia khuôn mẫu, hướng tới tăng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng ngay tại chỗ.
Song hành là “hệ sinh thái Foxconn”. Năm 2025, doanh thu các nhà máy Foxconn tại Bắc Ninh tăng 83% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm sản phẩm chủ lực tăng mạnh: Phụ tùng máy tính tăng gấp 7,85 lần; máy tính xách tay và iPad tăng gấp 2,61 lần so với cùng kỳ. Ở Khu công nghiệp Quế Võ, Tập đoàn Goertek cũng tiếp tục mở rộng với 4 công ty trên địa bàn, tổng vốn đăng ký hơn 1,3 tỷ USD, tạo việc làm ổn định cho gần 70 nghìn lao động, kéo theo nhu cầu logistics, dịch vụ kỹ thuật, nhà ở công nhân và nhà ở cho chuyên gia.
Bên cạnh những “đại bàng” FDI, sức mạnh của chuỗi giá trị còn đến từ những mắt xích nhỏ hơn, các doanh nghiệp cung ứng nội địa. Câu chuyện “vào chuỗi” không hề dễ của Công ty trách nhiệm hữu hạn In và Bao bì Châu Thái Sơn (Khu công nghiệp Quế Võ) cho thấy rõ điều này. Từ tháng 2/2018, doanh nghiệp trở thành vendor cấp 1 của Samsung, nhưng trước cái “gật đầu” ấy là một lần bị chấm chưa đạt. Tháng 7/2017, khi Samsung đến thăm nhà máy lần đầu, họ chỉ ra nhiều điểm chưa phù hợp; doanh nghiệp phải bắt đầu lại từ nhà xưởng, điều kiện làm việc. Yêu cầu của Samsung không chỉ là sản phẩm đúng thông số mà đó còn là chuyện “sạch” và “chuẩn” từ việc kiểm soát hóa chất để bao bì không có dư lượng gây hại, bảo đảm môi trường lao động, tuân thủ quy định pháp luật đến tiến độ giao hàng và sự ổn định chất lượng từng lô. Theo lãnh đạo Công ty, tiêu chuẩn của Samsung là tiêu chuẩn toàn cầu; làm được cho Samsung cũng là chạm tới yêu cầu của châu Âu và Hoa Kỳ. Không chỉ làm theo yêu cầu, một số doanh nghiệp nội địa đang chủ động nâng cấp năng lực thông qua chuyển đổi số. Dự án Hợp tác phát triển Nhà máy thông minh 2025 do Samsung phối hợp triển khai giống như một “cú hích” đầu năm giúp doanh nghiệp Việt tối ưu vận hành, kết nối dữ liệu theo thời gian thực và từng bước tiến tới mô hình nhà máy thông minh. Năm 2025, có 5 doanh nghiệp khu vực phía Bắc được chọn tham gia, trong đó Bắc Ninh có hai doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhựa An Lập (Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn) và Công ty cổ phần Đầu tư AMA Holding (Khu công nghiệp Yên Phong mở rộng).
Sau hơn 5 tháng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhựa An Lập được hỗ trợ hệ thống kết nối sản xuất - kho - chất lượng - thiết bị, giúp mức độ thông minh tăng từ 1,7 lên 2,8; tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tăng từ 80% lên 92%; tỷ lệ lỗi giảm từ 12% xuống 0,5%. Còn Công ty cổ phần Đầu tư AMA Holding được hỗ trợ để triển khai hiển thị dữ liệu theo thời gian thực; nhờ thiết bị đo tự động và danh sách kiểm tra điện tử, hiệu suất thiết bị tăng từ 90% lên 95%, tỷ lệ lỗi chất lượng giảm 75%. Ông Vũ Văn Mạnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đầu tư AMA Holdings cho biết: Áp dụng mô hình nhà máy thông minh đã giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản trị trong mọi công đoạn.
Nâng chuẩn toàn diện
Vào chuỗi đã khó song giữ chỗ trong chuỗi còn khó hơn, bởi tiêu chuẩn không đứng yên còn đối thủ thì luôn đứng sát. Kinh nghiệm của các doanh nghiệp hỗ trợ cho thấy không có đường tắt, chỉ có làm đúng và làm đúng liên tục.
Để đáp ứng chuỗi cung ứng toàn cầu và có thể nhân rộng, doanh nghiệp Việt phải tự nâng mình theo những yêu cầu rất cụ thể. Trước hết là chất lượng ổn định và truy xuất minh bạch được hồ sơ, dữ liệu, quy trình. Tiếp đến, kỷ luật tiến độ, giao hàng đúng hẹn trở thành điều kiện sống còn, nhất là với mô hình sản xuất tinh gọn. Rồi đến năng lực công nghệ và chuyển đổi số theo lộ trình từ số hóa dữ liệu sản xuất, đo kiểm tự động, bảng điều khiển theo thời gian thực, tối ưu và tự động hóa những khâu hay phát sinh lỗi...
Nhưng công nghệ chỉ là một nửa, còn lại là quản trị và tài chính. Để duy trì niềm tin và mở rộng quy mô, doanh nghiệp cần củng cố quản trị và tài chính. Các tập đoàn FDI thường đánh giá sức khỏe nhà cung ứng qua báo cáo 3 - 5 năm, ưu tiên sự ổn định và khả năng đáp ứng khi đơn hàng tăng, thay vì chỉ một hợp đồng ngắn hạn. Vì vậy, muốn nhân rộng nhà cung ứng nội địa, doanh nghiệp hỗ trợ phải chuẩn hóa quản trị chi phí, dòng tiền, tuân thủ; đầu tư nhân lực lõi (kỹ thuật, chất lượng, khuôn mẫu, tự động hóa) và liên kết theo cụm để giảm chi phí dùng chung phòng lab đo kiểm, chia sẻ danh sách kiểm tra tiêu chuẩn, gom logistics...
Để đáp ứng chuỗi cung ứng toàn cầu và có thể nhân rộng, doanh nghiệp Việt phải tự nâng mình theo những yêu cầu rất cụ thể. Trước hết, chất lượng sản phẩm ổn định và truy xuất minh bạch được hồ sơ, dữ liệu, quy trình. Tiếp đến là kỷ luật tiến độ, giao hàng đúng hẹn trở thành điều kiện sống còn, nhất là với mô hình sản xuất tinh gọn.
Áp lực của chuỗi toàn cầu đang đẩy doanh nghiệp phụ trợ tự đổi mới nhanh hơn. Nhiều đơn vị chuyển từ quản trị thủ công sang quản trị số, vận hành hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp để theo dõi đơn hàng và tồn kho; dùng AI hỗ trợ phát hiện lỗi trong kiểm tra ngoại quan; gắn cảm biến, IoT vào khâu đo kiểm để ổn định chất lượng. Đổi mới ở đây không phải để “trông hiện đại”, mà để đáp ứng kịp tiến độ giao hàng và yêu cầu chất lượng ngày càng cao.
Chia sẻ kinh nghiệm tự nâng cấp năng lực để “vào chuỗi” và trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng của FDI, bà Trần Thị Thu Trang, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ thế hệ mới HANEL PT (Khu công nghiệp Tiên Sơn), Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất công nghiệp Bắc Ninh cho rằng, doanh nghiệp Việt phải nâng chuẩn toàn diện từ chất lượng ổn định, tài chính minh bạch đến giá bán và năng lực mở rộng quy mô; đặc biệt là vai trò của R&D và chuyển đổi công nghệ. Đồng thời, Hiệp hội và địa phương cần phát huy vai trò “bắc cầu” giúp doanh nghiệp chuyển các tiêu chuẩn quốc tế thành việc phải làm theo từng tuần, từng tháng và kết nối doanh nghiệp đi trước kèm cặp doanh nghiệp mới để vào chuỗi nhanh hơn.
Giá trị của doanh nghiệp không chỉ nằm trong dòng thống kê cuối năm, nó được tạo ra từ sản xuất, từng lần kiểm soát chất lượng, từng chuyến hàng giao đúng hạn. Câu chuyện vào được chuỗi của Công ty trách nhiệm hữu hạn In và Bao bì Châu Thái Sơn hay những chuyển đổi theo Smart Factory ở Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhựa An Lập, Công ty cổ phần Đầu tư AMA Holding cho thấy, khi doanh nghiệp Việt làm chủ quy trình, dữ liệu và kỷ luật chất lượng, họ không chỉ làm ra sản phẩm, mà xây dựng được niềm tin trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên miền đất quan họ, chuỗi cung ứng toàn cầu cũng là một dạng “đối đáp”, chỉ khác rằng câu trả lời của nhà cung ứng không được đánh giá bằng cảm xúc, mà bằng chất lượng và tiến độ giao hàng.



































