Aotearoa và những ngày nắng dài
Sáng nay, khi mở mắt nhìn chiếc đồng hồ đã chỉ 8 giờ 30 phút nhưng khoảng trời ngoài cửa sổ vẫn còn mờ mờ xám, tôi chợt ngỡ ngàng tưởng thời tiết hôm nay chuyển xấu. Trên màn hình điện thoại là dòng tin nhắn của chồng gửi từ Việt Nam lúc 22 giờ 45 phút đêm hôm trước: “Chắc giờ này em đang ngủ ngon”. Nhìn mốc giờ nhận tin hiển thị 4 giờ 45 phút sáng ở New Zealand, tôi mới bật cười nhận ra: trong lúc mình ngủ, chiếc đồng hồ nơi đây đã tiến thêm một giờ, còn tôi như vừa bước qua một khoảng không thời gian mới.

Tuyết trắng trên sườn núi Ruapehu.
Những ngày đầu đặt chân đến Aotearoa - tên gọi New Zealand trong tiếng Māori - tôi tập làm quen với việc cộng thêm năm tiếng vào giờ Việt Nam. Khi người thân ở nhà chuẩn bị ăn tối, bên này tôi đã sắp đi ngủ. Có lúc muốn gọi về kể một chuyện vui, hoặc hỏi xem con trai đã thức dậy để kịp giờ đi học chưa, tôi lại phải nhìn đồng hồ, nhẩm tính. Phép tính nhỏ ấy dần trở thành thói quen, nối cuộc sống ở đây với nhịp sinh hoạt của gia đình. Vậy mà sáng nay, khi vừa cảm thấy mình đã quen, khoảng chênh ấy lại tăng thêm một tiếng.
Đúng 2 giờ sáng Chủ nhật, ngày 27/9/2026, New Zealand bắt đầu giờ mùa hè, chuyển đồng hồ lên 3 giờ. Với người dân nơi đây, đó là việc quen thuộc mỗi năm. Từ năm 2007, nước này áp dụng lịch giờ mùa hè từ Chủ nhật cuối cùng của tháng Chín đến Chủ nhật đầu tiên của tháng Tư năm sau, với đồng hồ chạy nhanh hơn giờ tiêu chuẩn một tiếng. Những thiết bị được cài đặt tự động lặng lẽ cập nhật trong đêm, còn tôi thức dậy với cảm giác vừa có một thay đổi nho nhỏ trong đời sống xa nhà.
Người ta gọi đó là “giờ tiết kiệm ánh sáng ban ngày”, một cái tên dễ khiến tôi hình dung rằng mỗi ngày sẽ được tặng thêm một khoảng nắng. Thực ra, ngày dài dần theo mùa khi Nam bán cầu đi từ xuân sang hạ; việc chỉnh giờ giúp con người tận dụng tốt hơn khoảng sáng ấy vào buổi chiều. Sau giờ tan sở, người ta còn có thể làm vườn, đi dạo hay đưa con ra ngoài chơi trước khi trời tối. Nghĩ đến những buổi chiều còn sáng lâu sau giờ học, tôi thấy phía trước chuyến đi của mình như mở thêm một khoảng rộng để khám phá.
Thế nhưng, trong lúc chiếc đồng hồ đã chuyển sang giờ mùa hè, cảm giác còn đọng lại trong tôi vẫn là cái lạnh của tuyết. Mới hôm qua thôi, trên sườn núi ở Whakapapa, đôi bàn tay tôi còn run lên vì một cuộc gặp bất ngờ. Mùa xuân New Zealand thật lạ, vừa đưa người ta vào một màn tuyết trắng, vừa hẹn những buổi chiều dài ở phía trước.


Đoàn trải nghiệm ngắm tuyết trắng trên khu vực Knoll Ridge Chalet, ở độ cao hơn 2.000m so với mực nước biển.
Cuộc hẹn bất ngờ trên sườn núi
Chuyến đi đến Whakapapa, khu trượt tuyết trên sườn núi Ruapehu, đã được chúng tôi dự định từ nửa tháng trước, nhưng nay mới thu xếp thực hiện được. Mùa xuân đã bắt đầu gần một tháng, chúng tôi lên đường mà không dám chắc có gặp được tuyết rơi. Các bạn phần lớn từng học ở nước ngoài nhiều năm hoặc đã đi du lịch ngắm tuyết, nên trải nghiệm ấy không còn xa lạ. Chỉ riêng tôi vẫn mang niềm mong chờ của một người chưa từng đứng dưới những bông tuyết đang rơi.
Buổi sáng khởi hành, trời nắng đẹp trong trẻo. Ở điểm dừng chân đầu tiên ngay lối vào, chúng tôi thấy những vệt tuyết cũ tan dở. Cáp treo đưa cả đoàn lên khu vực Knoll Ridge Chalet, ở độ cao hơn 2.000m so với mực nước biển. Nơi đây, tuyết phủ thành lớp dày trắng muốt, nhưng bầu trời vẫn trong xanh. Chúng tôi chụp ảnh, ngắm cảnh rồi tính chuyện trở về. Đúng lúc ấy, những hạt trắng li ti bắt đầu chao xuống. Một người trong đoàn từng sống ở vùng có tuyết giục chúng tôi nhanh ra ngắm.
Người hướng dẫn ngạc nhiên bảo đoàn quá may mắn; trong những chuyến anh dẫn đến đây từ đầu mùa xuân, anh chưa gặp trận tuyết nào đẹp và dày như thế. Còn tôi gần như chưa biết phải làm gì để đón lấy khoảnh khắc mình mong chờ. Cái lạnh khiến môi run lên, những ngón tay vụng về với từng thao tác bấm máy, nhưng tôi vẫn muốn nhìn thêm, giữ thêm chút gì của cảnh vật trước mắt. Tôi đưa tay hứng những hạt tuyết chao nghiêng, cảm nhận chúng chạm xuống da rồi tan thành nước. Tuyết đã ở ngay đây, lạnh buốt trong lòng bàn tay, khác hẳn mọi hình dung qua những khuôn hình.
Điều khiến tôi nhớ mãi còn là niềm vui của những người đi cùng. Mọi người như hạnh phúc cùng sự ngỡ ngàng của tôi, cùng nâng niu một trải nghiệm mà họ đã đi qua, còn tôi vừa mới chạm tới. Có lẽ niềm vui lần đầu ấy cũng khiến buổi ngắm tuyết của các bạn có thêm điều để nhớ. Giữa cái lạnh trên sườn núi, sự chia sẻ ấy đem lại cảm giác ấm áp rất lạ, khiến tôi thấy mình thật gần với những người đồng hành.

Tác giả bài viết tại sườn núi tuyết phủ thành lớp dày trắng muốt.
Người ta vẫn nói rằng, giữa muôn vàn bông tuyết đang rơi, không có hai bông nào hoàn toàn giống nhau. Phía sau cách nói đầy chất thơ ấy là câu chuyện của những tinh thể hình thành và phát triển trong các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm khác nhau, tạo nên những dáng hình phong phú. Nghĩ vậy, tôi càng thấy những hạt trắng trong lòng bàn tay đáng nâng niu. Mỗi hình hài mong manh chỉ ở lại trong thoáng chốc, vừa đủ để cảm nhận trước khi tan thành nước.
Có lẽ thiên nhiên là một cái duyên. Tôi không biết nếu chuyến đi diễn ra đúng dự định ban đầu, mình sẽ gặp cảnh tượng nào, chỉ thấy may mắn vì đã có mặt trong buổi hôm ấy. Chúng tôi đã định ra về, rồi tuyết đến giữ chân. Đôi bàn tay lạnh buốt mà tôi vẫn muốn nán lại, nhìn thật kỹ cảnh tượng lần đầu được thấy. Có những cuộc gặp ngắn ngủi khiến người ta mong thời gian trôi chậm hơn một chút.
Từ sợi dây giữ Mặt Trời đến nhịp sống hôm nay
Mong muốn níu một ngày ở lại lâu hơn khiến tôi nhớ câu chuyện từng được nghe trong một lần đến Bảo tàng Te Papa ở Wellington. Trong câu chuyện Māori ấy, Mặt Trời đi quá nhanh qua bầu trời, khiến con người không đủ thời gian cho những việc thường ngày như giặt giũ, phơi đồ. Māui cùng các anh em bện những sợi dây chắc khỏe, tìm đến nơi Mặt Trời mọc, dùng dây bắt giữ và buộc Mặt Trời phải chậm bước. Giữa những ngày đầu làm quen với giờ mùa hè, tôi thấy ước mong có thêm ánh sáng để làm việc và tận hưởng cuộc sống trong câu chuyện ấy thật gần gũi.
Năm 1895, nhà côn trùng học George Vernon Hudson trình bày đề xuất điều chỉnh giờ theo mùa tại Wellington. Ông mong có thêm thời gian ban ngày sau giờ làm việc để vào rừng nghiên cứu côn trùng. Chi tiết ấy khiến lịch sử của chiếc đồng hồ bớt xa xôi: một ý tưởng liên quan đến nếp sống xã hội lại gắn với niềm say mê rất riêng. Ai từng mong xong việc khi trời còn sáng để kịp làm điều mình yêu thích có lẽ đều tìm thấy chút đồng cảm với ông.
New Zealand lần đầu áp dụng giờ mùa hè vào năm 1927, nhưng việc đổi giờ không phải lúc nào cũng được đón nhận dễ dàng. Nhiều nông dân phản đối vì dù đồng hồ đã chỉ giờ làm việc, họ vẫn phải chờ sương trên cây trồng khô đi mới có thể thu hoạch. Người làm việc trong nhà mong có thêm ánh sáng sau giờ tan sở, còn người ngoài đồng phải nương theo thời tiết để thu xếp công việc. Chi tiết ấy khiến tôi hiểu thêm sự khác biệt giữa giờ giấc do con người quy ước và nhịp của tự nhiên. Chiếc đồng hồ chỉnh được trong chốc lát, nhưng giọt sương trên cỏ vẫn cần thời gian của nó.
Học cách quen với những ngày dài
Trở lại với điện thoại, tôi đọc thêm thông báo từ người quản lý lớp học ở trường đại học: “Hôm nay bắt đầu Giờ tiết kiệm ánh sáng ban ngày (DST), các bạn hãy nhớ tối nay đi ngủ sớm một tí nhé!”. Lời nhắc giản dị khiến tôi bật cười. Sau những câu chuyện về Mặt Trời và lịch sử đổi giờ, điều trước tiên tôi cần làm vẫn là thu xếp giấc ngủ. Thiết bị đã tự điều chỉnh trong đêm, còn cơ thể cần thêm thời gian để quen với nhịp sinh hoạt mới.

Đoàn trải nghiệm chụp ảnh lưu niệm chung ở Whakapapa.
Gần một tháng ở New Zealand, tôi đang học cách làm quen từ những điều nhỏ như thế. Có chuyện phải tính lại cho đúng giờ, có chuyến đi phải chờ thêm nửa tháng, cũng có niềm vui đến khi mình không còn dám kỳ vọng nhiều. Tôi mong những chiều mùa hè dài phía trước để thong thả khám phá vùng đất này, đón thêm những bất ngờ như trận tuyết ở Whakapapa và niềm vui được cả đoàn chia sẻ. Vậy mà giữa bao háo hức, tôi vẫn mong sớm đến ngày về nhà, được ở bên chồng con mà không phải nhẩm tính giờ mỗi lần muốn trò chuyện. Đi xa mới thấy lòng mình đôi khi thật lạ: muốn những ngày ở đây trôi chậm một chút, lại muốn ngày trở về đến nhanh hơn.

