Âm nhạc Việt trở thành ngành kinh tế: Cần gì để phát triển?
Âm nhạc Việt đang dần vượt khỏi khuôn khổ của hoạt động giải trí để hình thành một thị trường thực sự. Tuy nhiên, để những điểm sáng hiện nay phát triển thành một ngành kinh tế có sức cạnh tranh, sức sáng tạo của nghệ sĩ cần được nâng đỡ bởi bản quyền, hạ tầng, vốn, nguồn nhân lực chuyên nghiệp và một hành lang chính sách đủ sức mở đường.
Nhạc Việt đang khẳng định vị thế
Tháng 9 tới, ca sĩ Mỹ Anh dự kiến có các buổi biểu diễn tại Mỹ trong khuôn khổ dự án “phases of the moon”, với các điểm đến được công bố gồm Houston, Santa Ana và Brooklyn, New York. Đây chưa phải một tour diễn có quy mô đủ lớn để nói tới việc chinh phục thị trường Mỹ, nhưng vẫn là một bước đi đáng chú ý của một nghệ sĩ trẻ Việt Nam khi chủ động đưa các sáng tác, hình ảnh và phong cách âm nhạc do mình xây dựng đến với công chúng bên ngoài thị trường trong nước.

Ca sĩ Mỹ Anh dự kiến thực hiện tour diễn cá nhân phases of the moon tại Houston, Santa Ana và New York vào tháng 9 tới. Ảnh: FBNV
Trong đó, đêm diễn tại Houston được Miller Outdoor Theatre xác nhận tổ chức ngày 11/9/2026. Chương trình do Asia Society sản xuất, giới thiệu các tác phẩm trải dài từ album đầu tay Em đến EP tiếng Anh phases of the moon. Đây là chương trình miễn phí cho khán giả; khu ghế có mái che sử dụng vé miễn phí được phát trước, trong khi khu vực ngoài trời mở cửa tự do.
Chia sẻ về bước đi này, nhạc sĩ Huy Tuấn nhìn thấy ở Mỹ Anh hình ảnh mà ông chờ đợi từ một thế hệ nghệ sĩ trẻ: có khả năng “đối thoại với thế giới bằng một ngôn ngữ âm nhạc toàn cầu”, đồng thời kể câu chuyện của thế hệ mình bằng những sáng tác riêng. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở việc một nghệ sĩ Việt biểu diễn ở nước ngoài, mà còn ở nỗ lực bước ra khỏi thị trường quen thuộc bằng chính sản phẩm âm nhạc của mình.
Những bước đi như vậy xuất hiện trong bối cảnh thị trường âm nhạc trong nước đang thay đổi nhanh chóng.
Theo Báo cáo Tổng quan ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam 2025-2026 của Đại học RMIT Việt Nam, hơn 800 sự kiện âm nhạc đã diễn ra trên cả nước trong năm 2025. Những chương trình quy mô lớn như V Concert - Rạng rỡ Việt Nam hay Tổ quốc trong tim thu hút từ 25.000 đến 50.000 khán giả mỗi đêm.
Bức tranh đó cho thấy nhu cầu thưởng thức âm nhạc trực tiếp tại Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới. Khán giả không chỉ nghe nhạc qua các nền tảng số mà ngày càng sẵn sàng trả tiền cho trải nghiệm trực tiếp, từ mua vé concert, di chuyển tới địa phương khác để xem biểu diễn cho đến tham gia cộng đồng người hâm mộ và mua các sản phẩm gắn với nghệ sĩ.
Khi sân khấu khép lại, vòng đời kinh tế của một chương trình cũng chưa kết thúc. Ca khúc, hình ảnh và các đoạn trình diễn tiếp tục được lan truyền trên nền tảng số, tạo thêm giá trị cho nghệ sĩ, nhà tổ chức và thương hiệu. Một concert vì thế không chỉ tạo doanh thu từ bán vé mà còn có thể kéo theo quảng cáo, thời trang, lưu trú, vận tải, du lịch và các hoạt động thương mại liên quan.
Sự phát triển của thị trường còn thể hiện ở khả năng biến nội dung giải trí thành tài sản có thể khai thác lâu dài. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Công ty cổ phần DatViet VAC Group Holdings - doanh nghiệp đứng sau nhiều chương trình giải trí lớn - ghi nhận doanh thu hợp nhất ở quy mô hơn nghìn tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế gần 135 tỷ đồng.
Không thể quy toàn bộ kết quả kinh doanh đó cho riêng một chương trình hay một concert. Tuy nhiên, những con số này cho thấy nội dung giải trí đã có khả năng tạo ra dòng tiền đáng kể. Khi một chương trình được phát triển thành tài sản sở hữu trí tuệ, giá trị của nó có thể tiếp tục được khai thác qua âm nhạc, biểu diễn trực tiếp, nền tảng số, quản lý và thương mại hóa nghệ sĩ, cấp quyền thương hiệu cũng như các sản phẩm đi kèm.
Đó cũng chính là khác biệt giữa một sản phẩm giải trí thành công và một ngành công nghiệp: giá trị không dừng lại ở một lần biểu diễn, mà được tổ chức thành một chuỗi hoạt động kinh tế có khả năng tái tạo doanh thu.
Từ những điểm sáng đến một ngành công nghiệp
Câu chuyện của những nghệ sĩ trẻ tìm đường đưa sản phẩm ra nước ngoài cho thấy khả năng mở rộng thị trường của nhạc Việt. Những concert đông khán giả chứng minh sức mua ngày càng rõ nét của thị trường trong nước. Còn sự hình thành và khai thác các tài sản sở hữu trí tuệ cho thấy nội dung văn hóa có thể được tổ chức thành hoạt động kinh doanh.
Ba chuyển động này gặp nhau ở một điểm: văn hóa không chỉ tạo ra giá trị tinh thần mà ngày càng trở thành một lĩnh vực kinh tế.
Ngày 14/11/2025, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghệ thuật biểu diễn nằm trong nhóm sáu ngành được ưu tiên phát triển trọng tâm, cùng điện ảnh, phần mềm và trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa.
Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm, đóng góp khoảng 7% GDP; giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa tăng bình quân khoảng 7% mỗi năm. Đến năm 2045, doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa được định hướng đóng góp 9% GDP, trong khi sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm trên 80%; Việt Nam hướng tới trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa và công nghiệp giải trí trong khu vực châu Á.
Đáng chú ý, chiến lược cũng đặt vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa, trước mắt tập trung vào những thị trường nước ngoài có đông cộng đồng người Việt.
Nhìn từ định hướng đó, những chuyến lưu diễn của nghệ sĩ Việt ở nước ngoài, dù quy mô ban đầu còn khiêm tốn, vẫn có ý nghĩa như những phép thử thị trường. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể trở thành lớp khán giả đầu tiên để nghệ sĩ kiểm nghiệm sản phẩm, xây dựng mạng lưới và từng bước tiếp cận rộng hơn với công chúng quốc tế.
Nhưng xuất khẩu âm nhạc không chỉ đơn giản là đưa nghệ sĩ ra nước ngoài biểu diễn. Một sản phẩm muốn đi xa còn cần năng lực phân phối, quảng bá, quản trị bản quyền, kết nối với nền tảng quốc tế và khả năng kể một câu chuyện đủ riêng để cạnh tranh trong thị trường toàn cầu.
Thực tế những năm gần đây cho thấy bản sắc có thể trở thành một lợi thế. Báo cáo của RMIT nhận định một trong những xu hướng nổi bật của âm nhạc Việt là việc các nghệ sĩ kết hợp chất liệu văn hóa bản địa với ngôn ngữ âm nhạc đương đại. Một số sản phẩm lấy cảm hứng từ dân gian không chỉ đạt sức lan tỏa trên nền tảng số mà còn gắn với câu chuyện văn hóa và thậm chí tạo hiệu ứng đối với du lịch.
Đây là yếu tố đáng chú ý khi bàn tới khả năng xuất khẩu âm nhạc. Trong một thị trường mà khán giả toàn cầu có thể tiếp cận gần như mọi sản phẩm chỉ bằng một cú chạm màn hình, lợi thế của nghệ sĩ Việt khó nằm ở việc làm giống những thị trường đã phát triển hơn. Khả năng cạnh tranh nhiều khả năng đến từ việc sử dụng một ngôn ngữ âm nhạc đủ hiện đại nhưng vẫn tạo ra bản sắc có thể nhận diện.
Ở chiều ngược lại, những thành công nhất thời của một vài concert chưa đủ để khẳng định Việt Nam đã có một ngành công nghiệp âm nhạc hoàn chỉnh.
Một ngành công nghiệp cần nhiều mắt xích cùng vận hành: người sáng tác và nghệ sĩ; nhà sản xuất âm nhạc; đơn vị quản lý nghệ sĩ; doanh nghiệp tổ chức biểu diễn; nền tảng phân phối; hệ thống bản quyền; quảng cáo, truyền thông; địa điểm biểu diễn; nguồn vốn và dữ liệu thị trường.
Nếu một hoặc nhiều mắt xích còn yếu, những thành công riêng lẻ khó chuyển thành tăng trưởng dài hạn.
Trước hết là bản quyền. Khi âm nhạc trở thành tài sản kinh tế, quyền sở hữu và cơ chế phân chia doanh thu phải đủ rõ để người sáng tạo được hưởng lợi tương xứng với giá trị mà sản phẩm tạo ra. Một thị trường mà tác phẩm được sử dụng rộng rãi nhưng nguồn thu không quay trở lại đầy đủ với người sáng tạo sẽ khó tạo động lực đầu tư cho những sản phẩm có chất lượng cao.
Tiếp đó là nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Công nghiệp âm nhạc không chỉ cần ca sĩ hay nhạc sĩ. Phía sau một nghệ sĩ còn là nhà sản xuất, quản lý, chuyên gia truyền thông, luật sư sở hữu trí tuệ, kỹ sư âm thanh, ê-kíp sân khấu, đơn vị bán vé và nhiều vị trí khác. Khi thị trường lớn lên, tính chuyên nghiệp của những lực lượng phía sau sân khấu ngày càng quyết định khả năng phát triển bền vững.
Một nút thắt khác là hạ tầng. Những sự kiện có hàng chục nghìn khán giả đòi hỏi địa điểm biểu diễn, giao thông, an ninh, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ đi kèm tương xứng. Nếu thị trường concert tiếp tục tăng trưởng, nhu cầu về các địa điểm biểu diễn được thiết kế chuyên biệt cho những sự kiện quy mô lớn cũng sẽ trở nên cấp thiết hơn.
Cuối cùng là dữ liệu thị trường và vốn. Khi chưa có dữ liệu đủ minh bạch về doanh thu, hành vi khán giả, sức mua, bản quyền hay hiệu quả đầu tư, doanh nghiệp khó định giá đúng cơ hội, còn nhà đầu tư khó nhìn âm nhạc như một lĩnh vực kinh doanh có thể tính toán rủi ro và lợi nhuận.
Công nghiệp văn hóa vì vậy không thể lớn lên chỉ nhờ một vài mùa concert bùng nổ.
Điều thị trường cần là một hệ sinh thái trong đó người sáng tạo có thể sống bằng nghề; doanh nghiệp có thể đầu tư và thu hồi vốn; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ và thương mại hóa; hạ tầng đủ sức phục vụ những sự kiện lớn; còn chính sách tạo không gian cho những mô hình kinh doanh và sản phẩm mới hình thành.
Khi nghệ sĩ dám bước ra khỏi vùng an toàn, doanh nghiệp biết biến nội dung thành tài sản có giá trị và chính sách chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, âm nhạc Việt mới có cơ sở để đi xa hơn những thành công mang tính thời điểm.
Khi ấy, một ca khúc hay một concert không chỉ là sản phẩm giải trí. Nó có thể tạo doanh thu, việc làm, xuất khẩu và du lịch; đồng thời góp phần đưa hình ảnh, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam đến với công chúng bên ngoài biên giới.
Đó cũng là lúc âm nhạc thực sự trở thành một ngành kinh tế và một nguồn sức mạnh mềm của quốc gia.





























